Ta còn em một màu xanh thời gian...!!!

Người nghệ sỹ ấy đã ra đi nhưng tiếng hát hát da diết về màu xanh thời gian thì có lẽ vẫn còn sống mãi với Hà Nội: “Ta còn em một màu xanh thời gian/ Từng chiều phai tóc em bay/ chợt nhòa, chợt hiện/ Người nghệ sĩ lang thang hoài trên phố/ Bỗng thấy mình chẳng nhớ nổi một con đường/ Ta còn em hàng phố cũ rêu phong/ Và từng mái ngói son yêu/ Nao nao kỷ niệm/ Chiều Hồ Tây lao xao hoài con sóng/ Chợt hoàng hôn về tự bao giờ...”.

Bài hát gây ấn tượng mạnh nhờ mở ra cánh cửa thời gian để đưa mọi người trở về với ngày hôm qua. Nghệ thuật thường là như vậy, phải tạo ra một khoảng cách thẩm mỹ để chiêm ngưỡng, thưởng thức. Cự ly quá gần sẽ không thể tạo ra một cái nhìn toàn cảnh, nhất là khó nhận ra những lớp hình ảnh, màu sắc hòa phối chồng lấn, tương phản hay tương hỗ để tạo ra hiệu ứng tiếp nhận cần thiết. Là nghệ sĩ của thời gian, nhiều nhạc phẩm của Phú Quang luôn có xu hướng hoài niệm, ngay trong bài “Em ơi, Hà Nội phố” này cũng thể hiện phong cách ấy qua những hình tượng “mùi hoàng lan”, “mùi hoa sữa”, “con đường vắng”, “cây bàng mồ côi mùa đông”, “nóc phố mồ côi mùa đông”, “mảnh trăng mùa đông”..., đều ở “mùa đông năm ấy”. Như một chân lý nghệ thuật, chưa kể tài năng, nghệ sĩ phải có vốn sống, có tình yêu, nhất là những kỉ niệm sâu sắc, mà với Phú Quang – một người của Hà Nội, thì hoàn toàn đáp ứng.

image001.jpg -0
Hàng cây mùa đông!

Đối lập với “màu xanh thời gian” này, họa sĩ, nhạc sĩ, thi sĩ Văn Cao có bài “Thời gian” độc đáo: “Rơi/ như tiếng sỏi/ trong lòng giếng cạn/ Riêng những câu thơ/ còn xanh/ Riêng những bài hát/ còn xanh/ Và đôi mắt em/ như hai giếng nước”. Tên bài thơ là chìa khóa mở ra mã nội dung: thời gian. Thời gian ở đây được hữu hình hóa như tiếng sỏi rơi trong giếng cạn. Đối lập triệt để với nhịp thời gian khô khốc lạnh lùng này là “Riêng”. Chữ “riêng” như cái bản lề khép mở hai vế cấu trúc của thi phẩm, khép lại nhịp thời gian đáng ghét, đáng sợ kia, mở ra những gì là hy vọng thật tràn trề là “những câu thơ”, “những bài hát”, nhất là “đôi mắt em” thăm thẳm mà huyền bí “như hai giếng nước”. Bài thơ đưa ra một quy luật: vượt qua cái khắc nghiệt của thời gian, chỉ có nghệ thuật (thơ) là bất tử, sự sống (bài hát) là bất tử, tình yêu (đôi mắt em) là bất tử!

Khẳng định “màu thời gian không gian” mà là “tím ngát”, thời Thơ mới, Đoàn Phú Tứ có bài “Màu thời gian” thật đặc biệt. Đặc biệt vì nó “màu sắc hóa”, “hương vị hóa” thời gian – một phạm trù vô hình, trừu tượng, không nhìn thấy: “Màu thời gian không xanh/ Màu thời gian tím ngát/ Hương thời gian không nồng/ Hương thời gian thanh thanh (…)/ Hương thời gian thanh thanh/ Màu thời gian tím ngát”.

Bài thơ này là một “phản biện” lại một quan niệm của người Pháp cho rằng thời gian màu xanh. Nhà thơ huy động cảm nhận về không gian hiện tại (“Sớm nay tiếng chim thanh/ Trong gió xanh”), sự hiểu biết về “liên văn hóa” phương Đông (“ngàn xưa không lạnh nữa Tần Phi” và “Tóc mây một món chiếc dao vàng”) làm căn cứ.

Tần phi xưa lúc sắp mất nhưng nhất định không cho vua Hán Võ xem mặt vì sợ thấy mặt mình tiều tụy mà vua sẽ hết yêu. Vì xa cách, Dương Quý Phi cắt tóc gửi người yêu là Đường Minh Hoàng. Như vậy với Đoàn Phú Tứ, màu thời gian tím ngát chứ không phải màu xanh, vì nó gắn liền với tình yêu – một tình yêu rất cổ điển, rất đẹp. Cũng vì thế mà “hương thời gian thanh thanh”!

Thế thời gian màu gì?

Tận cổ xưa, thần thoại quan niệm vì gắn liền với sự vật hiện tượng nên thời gian quay vòng, vĩnh viễn và bất tử như sự bất tử của các vị thánh vậy. Thần Mặt trời làm ra ngày. Thần Mặt trăng làm ra đêm. Thần Tình yêu luôn bay trên trời... Ai làm việc ấy. Thời gian cũng theo đó mà tuần hoàn, không đầu không cuối, cũng chẳng có kết thúc...

Nhìn từ góc độ này ta thấy thời gian trong truyện “Thánh Gióng” cũng bất tử như Thánh Gióng vậy. Đánh xong giặc Gióng bay về trời. Một hình tượng tuyệt đẹp đã vĩnh cửu hóa, bất tử hóa người anh hùng lý tưởng xả thân vì dân vì nước vô tư nhất, không “tham quyền cố vị”, không đòi hỏi chức nọ tước kia... Chàng bay lên trời để vĩnh viễn sống cùng mây trắng cũng là mãi mãi sống trong tâm thức văn hóa Việt để rồi trở thành cổ mẫu cho ngàn sau chiêm bái!

Những hạt cổ mẫu như vây từ cây văn hóa ngàn xưa rơi vào miền văn chương đương đại sẽ “nở” ra biết bao những mã mới. Ngày xưa chỉ có một Thánh Gióng nhưng càng về sau sẽ có rất nhiều những Thánh Gióng, không chỉ trong đánh giặc mà sẽ “vươn vai” ở nhiều lĩnh vực đời sống...

image003.jpg -0

Đến cổ tích thì thời gian bị nén chặt đến mức phi thời gian, chỉ đo đếm bằng sự kiện. Nhân vật không già đi. Cô Tấm vẫn là cô Tấm, dù có bị hãm hại, chết mấy lần cô vẫn như xưa. Chàng Thạch Sanh cũng luôn thế, chẳng thay đổi. Chàng Từ Thức lên cõi tiên sống, nhớ cõi trần mà trở về, chàng vẫn vậy, chỉ có người trần là thay đổi. Chàng đành bỏ đi vào núi... Phi thời gian đến nỗi như ở truyện “Nàng công chúa ngủ trong rừng” thì hàng trăm năm sau người ta vẫn thấy cốc rượu của đám vệ sĩ uống dở còn mấy giọt. Tức nó không bay hơi theo quy luật vật lý. Cổ tích là vậy, nó chống lại mọi quy luật để nó là chính nó với bao khát khao, bao ước mơ sẽ thành hiện thực. Thế nên ai cũng thích được trở về thời cổ tích! Thời gian cổ tích ư? Đơn giản chỉ là “ngày xửa ngày xưa...”!

Đến thời trung cổ người ta đo đếm thời gian bằng “mùa” gắn liền với công việc hay sự kiện quan trọng. Tương tự như ở ta “tháng hai trồng đỗ, tháng ba trồng cà”, thì trong ngôn ngữ cổ của người Đức thì tháng bảy là “tháng cắt cỏ”, tháng tám là “tháng gieo vãi”, tháng chín là “tháng làm rượu nho”... Người Thụy Điển cổ xưa gọi tháng Chạp là “tháng cừu” hay “tháng gia súc lạc nhau”, gọi mùa hè là “mùa giữa vụ cày và xếp đống rạ”...Dấu vết này vẫn còn có thể hiện trong ngôn ngữ. Từ  “year” trong tiếng Anh nghĩa là “năm” có âm tố “ar”, từ cổ có nghĩa là mùa màng. Ca dao người Việt có câu: “Tháng ba tháng bốn tháng khốn tháng nạn”, hay “đói tháng ba” tức “tháng giáp hạt”... Tức thời gian cũng đo bằng “mùa”, giáp hai mùa thì thường đói do thiếu ăn! Đến nay vẫn dùng: mùa mưa, mùa khô, mùa lễ hội, có cả “mùa kết nạp hội viên” (nhà văn)...

Như dòng sông lớn, thời gian càng chảy về miền hiện tại càng có nhiều chi lưu. Các phạm trù chỉ thời gian ngày càng đa dạng, đo bằng đời người (thời gian sinh mệnh), đo bằng vũ trụ (thời gian vũ trụ), thời gian các triều đại (thời gian lịch sử)... “Tây du ký” của Trung Quốc hấp dẫn là nhờ có nhiều kiểu thời gian, của thần thoại, của cổ tích, của lịch sử, của đời người... Thời gian bốn thầy trò đi từ đất nhà Đường đến Tây Trúc mất hơn 14 năm là thời gian lịch sử. Chuyện Tôn Ngộ Không bị núi đè mấy trăm năm, trước đó là “đại náo thiên cung”, “đại náo thủy cung”... là thời gian thần thoại, cổ tích... Thơ Đường hay một phần nhờ sử dụng nghệ thuật thời gian rất điêu luyện, như trường hợp bài “Đăng U Châu đài ca” của Trần Tử Ngang: “Nhìn về trước người xưa vắng vẻ/ Ngoảnh lại sau, người đến không có/ Ngẫm ra trời đất dài lâu/ Mình ta rơi hạt lệ sầu chứa chan”. Một hình tượng con người vũ trụ cô đơn đến cực điểm, cô đơn giữa hai chiều thời gian, cô đơn giữa không gian trời đất!

 Nguyễn Trãi rất hay triết lý về thời gian: “Khỏi triều quan mới hay ơn chúa/ Sinh được con thì cảm đức cha” (Trần tình). Hôm nay ta hiểu: ra khỏi nơi từng sống mới hay ân nghĩa tình đời. Phải từng thấu hiểu và thấu cảm trách nhiệm và bổn phận làm cha mẹ mới thấu hiểu thấu cảm tình cha mẹ. Mới thấy câu thơ Chế Lan Viên sau này không mới: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”. Con người chịu chi phối của quy luật lứa tuổi: “Tiếc thiếu niên qua lật hẹn lành/ Hoa hoa nguyệt nguyệt luống vô tình” (Thơ tiếc cảnh IV). “Lật” nghĩa là lỡ: thời gian trôi đem theo bao hẹn hò tuổi trẻ. Để bây giờ hoa nguyệt (cái đẹp) cũng trở thành vô tình với mình. Thật xót xa cho những ai không sống hết mình ở cái thời hồn nhiên mê say, để rồi quá lứa... Ý thơ mãi hiện đại mang tầm phổ quát với mọi người, mọi thời.

Nguyễn Du vẫn là nhà thơ nói hay nhất về thời gian, nhất là thời gian tâm trạng, khi vui thì “Ngày vui ngắn chẳng tày gang”, khi buồn thì thời gian như dài lê thê “Ba thu dọn lại một ngày dài ghê”. Không chỉ là nhịp trôi chảy của thời gian mà còn là nhịp đi của không gian, của đời người: “Sen tàn cúc lại nở hoa/ Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân”.

Như vậy thời gian không màu, không vị. Nó gắn liền với quan niệm của thời đại và tâm trạng con người!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).