Sương muối hát đầu non

Đêm ba mươi Tết ở vùng cao cứ ma mị làm sao. Thời tiết đỏng đà đỏng đảnh như thầy mo bắt quyết lầm rầm bùa chú. Nhưng, giao thừa thì chẳng bao giờ lỗi hẹn. Mùa này, đất trời Tây Bắc chìm vào màn sương muối hát đầu non...

Gọi là sương muối nhưng chẳng hề mặn tẹo nào, thậm chí không có vị. Chỉ có lạnh và lạnh, đến buốt giá tim óc. Cả một vùng bao la ngút ngát đỉnh trời như có bàn tay nào cần mẫn, cần mẫn đến phi thường để rưới rắc những hạt trắng xóa tinh khôi lên mọi bề mặt đang lặng lẽ rẩy run. Cái lớp trắng mịn xôm xốp ấy chính là sương muối đấy. Có thể xem sương muối là một dạng tuyết non, non đến nõn nà mà cắt cứa ám ảnh thịt da. Bởi vậy, nó còn có tên là sương giá.

anh-3.jpg -0
Mùa sương muối trên vùng cao.

Sương muối hát đầu non khi đêm buông, nhiệt độ ngoài trời “không còn dương khí”, tức là từ 0 độ C trở xuống và có đủ độ ẩm nhất định để ngưng tụ thành hạt, đóng băng li ti. Sương muối thình lình thành hình, khẽ khàng như hơi thở của một nàng tiên nào đó. Là sương giáng! Tôi lim dim mường tượng nàng trắng muốt như tuyết, mảnh mai như tuyết và cũng hung hiểm như tuyết, ẩn ức nên không thể nào thoát tục.

Cuối đông, gió chồng lên gió, sương muối như người đàn bà hờn dỗi, ngúng nguẩy vẩy vung hằng hà trắng xoá lên mọi ngóc ngách xó xỉnh cuộc người. Vậy nên, những nẻo đường Tây Bắc thưa vắng bước chân xuôi ngược. Có lẽ cũng từ mùa đông mà ngôi nhà được gọi tên là tổ ấm. Dù cái tổ ấm đó có tuềnh toàng đến mấy cũng căng mình cật lực che chắn gió sương cho những phận người trú tránh. Vì thế mà con thú có hang, con chim có tổ, con người có nhà...

Tôi miên man nghĩ, mùa sương muối hát cũng là mùa sum vầy. Những đứa con tỏa đi muôn phương đặng tìm cơm áo nay đã quần quây bên bếp lửa bập bùng bóng núi. Hơi rượu tỏa nồng trên mặt, xúm xít kể cho nhau nghe về đằng đẵng năm dài tha phương cầu thực, rồi hồ hởi tin rằng năm mới sẽ khấm khá hơn, no đủ hơn. Cái buốt rét hung bạo của sương muối dường như bị chặn lại bên ngoài phên liếp, hơi ấm nồng đượm giữa người với người cứ hồn nhiên tỏa lan qua những câu chuyện ngút ngát đêm thâu.

Mùa sương muối hát, rét như dao cắt, sắc nhọn đâm nhói thịt da. Những cơn bấc đanh đá xuyên qua ống tay kẻ chỉ để hành hạ lữ khách. Nói vậy chứ rét cũng có cái thú vị riêng. Rét để nhắc nhớ con người về hơi ấm, một thứ “lửa” luôn sẵn có trong mỗi chúng ta. Rét để những gia đình nghèo tất tả mưu sinh có những phút giây quây quần bên bếp củi đượm tình rôm rả. Rét để những đôi bàn tay biết kiên nhẫn nắm chặt cùng nhau trao hơi ấm, chứ không phải hờ hững như một thói quen. Rét để mà mong chờ mùa xuân tươi sáng, để tiếc nuối mùa thu sao vội qua nhanh, để tưởng tượng về một mùa hè vùi mình vào sóng biếc.

Đồng bào vùng cao Tây Bắc không lạ gì với hiện tượng thời tiết cực đoan này nhưng người các miền khác đa phần đều tò mò muốn được một lần khám phá, háo hức mục sở thị. Tôi cũng không ngoại lệ. Tôi đã từng mê mải ngắm nhìn sương muối tồng ngồng trắng xóa phủ trùm lên màn đêm rồi thẹn thùng lau mặt trước khi nắng mai thức dậy. Chớp mắt, sương muối vội tan! Sương chảy tràn xuống gập ghềnh sỏi đá, để lại sự ủ ê héo rũ của cây cỏ, hoa màu dưới ánh dương. Sương muối nói với tôi về sự vô thường, về tự do, về cảm xúc, về kết nối giữa con người với vạn vật xung quanh.

Sương muối thêu dệt những ảo diệu khiến tôi như bị bỏ bùa muội mê. Nhưng ấy là khi chưa thấy, chưa chạm, chưa nếm, chưa cảm… được sự trụi trần của sương muối. Còn bây giờ, mỗi lần nghe xuất hiện sương muối là lòng lại nao nao, bởi nhiều nơi vùng cao vẫn còn thiếu ăn thiếu mặc, chống chọi ra sao với cái lạnh cắt da xẻ thịt dù là đang xúng xính mùa Tết Cả.

Lại nữa, quê tôi là vùng chiêm trũng nhỏ hẹp chạy dọc khúc ruột miền Trung. Thuở nhỏ, họa hoằn tôi vẫn nghe người quê lam lũ ruộng đồng kháo nhau rằng hôm qua trời đày sương muối, bằng chứng là cây cối đang đâm lộc mơn mởn bỗng khựng lại xoăn xít, rồi cháy xém, rồi héo rũ… khắc khổ thảm thương. Các loài vật nuôi cũng bị ảnh hưởng, chậm chạp hơn và ít ăn hơn, rười rượi ngẩn ngơ.

Hôm rồi em bảo, mùa này ở thung quê đã bắt đầu có sương muối. Nhà em cuối phố đầu non, là miền trung du sơn thuỷ hữu tình thuộc Tây Bắc nhưng cái nghèo vẫn còn tung tăng khắp chốn. Chẳng biết có phải vì thời tiết khắc nghiệt hay không mà những người thân đều đau bệnh: chú thím không khỏe, mẹ thoát vị đĩa đệm cấp, ông bị gút hành sưng nhức, bác cả viêm phế quản… Nhưng thời khắc nào đó, nhà lại rộn tiếng cười khi mẹ đi lệch cả người vì đau nhói mà vẫn tếu táo tự trào với cái dáng “con đò ngoảnh đít sang ngang”. Có lẽ, em thừa hưởng sự lạc quan từ mẹ, cả đức tính chịu khó, luôn cố gắng vươn lên trong nghịch cảnh và chăm chỉ đến mức tham việc. Vậy mà thương. Thương đến xót buốt. Rát ruột!

Tết này, sương muối về trên quê em như những chiếc dằm sương xóc xỉa tim tôi, khiến nỗi âu lo mông lung bỗng chốc quánh lại, kết tủa ở cõi lòng đa mang. Chẳng phải cố hương nhưng tôi cứ bập bùng niềm thương xa ngái miền xanh, bao đồng với những câu chuyện đầu ghềnh cuối bãi nơi thung nghèo chấp chới mùa sương muối hát. May thay, những “lời ca độc hại” chỉ thoáng qua, sẽ biến mất trước khi nhìn thấy ánh mặt trời.

anh-2.jpg -0
Đồi chè ở Mộc Châu – Sơn La phủ trắng sương muối.

Canh cánh nỗi lo, nếu chẳng may sương muối rớt xuống cuộc người, tôi ước, mình là chiếc bóng đủ rộng dày để phủ che em. Còn em, cứ việc ngủ ngoan trong giấc mơ cánh trắng loang hương và mỉm cười thức dậy khi ấm nắng đã an bài tinh tươm.

Thật lạ! Lòng cứ nghẹn lại khi ai đó nhắc đến bóng núi Tây Bắc trong mùa gió chướng, mùa sương muối hát đầu non. Nỗi niềm tưởng chừng thắt ngực, dù em và tôi chưa một lần mặn môi.

Chiều ba mươi Tết năm rồi, em khoác áo ấm lớp trong lớp ngoài để đi vào bản giữa mùa sương muối ngân nga. Là bản của người Dao đỏ. Gái trai xúng xính sắc màu thổ cẩm, những đôi má hây hây ru tỉnh ru say bước chân lữ thứ khám phá hồn cốt đại ngàn. Em không mang theo điện thoại nên tôi sôi ruột bỏng gan suốt cả buổi chiều dằng dặc. Đến tối mịt, em mới tiếc nuối quay gót bước qua sương trên con đường rẩy run mướt giá, đặng còn kịp quây quần với cả nhà bên mâm cúng giao thừa.

Có những mùa sương muối lây rây từ đông cũ vắt qua Tết cổ truyền dân tộc. Thời khắc đó, tôi không còn nhớ đôi chân mình đang lạc bước nơi nao của núi rừng Tây Bắc. Nhưng hễ cứ nhắc đến sương muối thì tôi chẳng thể nào quên, cái buốt giá của thiên nhiên sẽ lập tức hiện hữu, mồn một trắng xóa phủ lên bao la. Dù vậy, vẫn không ngăn được bước chân reo ca, không ngăn được lòng người mở hội, không ngăn được trái tim tôi đập nhịp nhớ thương…

Giáp Tết năm nào, tôi nổi hứng xách ba lô rời phố thị, một mình lãng đãng lạc vào cõi sương muối Tây Bắc, thấm thía nỗi cô đơn đang giong buồm bên ngực trái. Một kẻ ương bướng như tôi bỗng thấy mắt mình cũng khắc khoải ngậm sương trong mùa gió chướng.

Nhưng, cũng nhờ cái thú rong ruổi vùng cao giữa mùa sương muối hát mà tôi được hít thở cùng người dân bản địa các nét văn hoá “độc nhất vô nhị” trong dịp Tết cổ truyền. Tôi vẫn nhớ thời khắc giao thừa, người Pu Péo hát thi với gà trống để đánh thức mặt trời, họ tin rằng ai hát to khỏe hơn tiếng gà gáy thì năm mới được nhiều may mắn, sung túc. Rồi thì khi chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, người Mường sẽ đốt đuốc đi gọi vía trâu về ăn Tết cùng gia đình; người Mông có tục vỗ mông ở hội xuân Sải Sán để bày tỏ tình cảm lứa đôi; người Lô Lô đi ăn trộm cầu may nhưng chỉ lấy những vật có giá trị nhỏ như vài cành củi, hạt ngô hạt gạo…

Dường như, cái bảng lảng của sương muối đã âm thầm quấn quyện để hương vị Tết ở vùng cao Tây Bắc mặn mòi hơn, để những đôi má xuân thì hây hây men rượu như có bùa ngải níu lấy lòng người lữ thứ…

Lê Hải Kỳ

Các tin khác

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.