Bốn đoản khúc về “Bể người thăm thẳm”, tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na, NXB Hội Nhà văn, 2025

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Đời là bể khổ, tình là dây oan “ (“Truyện Kiều” - Nguyễn Du)

Được xem là cây bút nữ thế hệ 7X-8X có duyên viết truyện ngắn cùng với Như Bình, Nguyễn Phương Liên, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp, Di Li, Tống Ngọc Hân, Vũ Thanh Lịch, Nguyễn Hương Duyên, Vũ Thị Huyền Trang, Tống Phú Sa, Mai Phương, Nguyễn Thị Hồng Chính, Trần Quỳnh Nga, Trần Thị Tú Ngọc, Chu Thị Minh Huệ, Nguyệt Chu, Phạm Thị Duyên, Nguyễn Thị Kim Hòa, Trác Diễm, Nguyễn Hồng, Lưu Thị Mười...

Một cây bút truyện ngắn viết trầm tĩnh, nắn nót và sâu lắng, phải nhận xét như thế mới thỏa đáng về tác giả này, qua ba tập truyện xinh xắn khiêm tốn trình làng văn “Bến mê” (2007), “Đắng ngọt đàn bà” (2020), “Bể người thăm thẳm” (2025); với chừng khoảng hơn 30 truyện ngắn cả thảy, chia đều cho 18 năm cặm cụi bút mực, trung bình mỗi năm viết 2 truyện.

Phận liễu xưa nay... -1
Nhà văn Nguyễn Thị Lê Na phát biểu tại Đại hội Đại biểu Hội VHNT tỉnh Quảng Trị.

Nói một cách hình tượng thì, Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

Phận liễu trong những nghịch cảnh cuộc đời

Tôi hình dung, nhân vật nữ của Nguyễn Thị Lê Na giống như những người dám chấp nhận đi ngược chiều gió với tâm thế “Thuyền cầu bão táp mưa sa/ Dường như giông bão mới là bình yên” (“Con thuyền” – Lermontov). Có vẻ như đó là một cách thức  mà tác giả bày đặt ra những nghịch cảnh cuộc đời để nhân vật nữ có cơ hội bộc lộ tính cách, bản lĩnh theo tinh thần dấn thân và lựa chọn đầy tính chất cộng sinh - chúng sinh - hiện sinh. Lại nữa, tác giả đã giăng mắc sẵn những cạm bẫy đôi khi có cái vẻ bề ngoài bọc đường ngọt ngào, nhưng bên trong là những mũi tên sắc bén có thể gây sát thương cao.

Một phụ nữ tin rằng rời bỏ quê hương bản quán sang trời Tây là đến được miền đất hứa, chạm được vào hạnh phúc và bình yên. Nhưng thực tế thì, nào chẳng thấy đâu hứa với hẹn, chỉ rặt đau đớn, ê chề, đói khổ rã rời như cô Miên đã trải qua hãi hùng, bầm dập, suýt mất mạng (“Em đừng đi”).

Cảnh ngộ này tương tự như những con mồi mà đa số là những nam thanh nữ tú mới đây bị săn bẫy vào giấc mơ việc làm nhẹ lương cao ở bên kia biên giới xa xôi và đầy phản trắc khiến thân bại danh liệt. Có thể họ bị hoàn cảnh xô đẩy, cũng có thể do tính phiêu lưu mạo hiểm, bởi ham thanh chuộng lạ mà một người nữ vốn chân yếu tay mềm cố dấn thân, bạo bước vào chốn mông lung như cô Quyên (“Bể người thăm thẳm”).

Dẫu biết “Đời là bể khổ/ Tình là dây oan” (“Truyện Kiều” – Nguyễn Du). Cái quy luật khắc nghiệt đó quàng vào cổ ai thì thành số phận của người đó, nhất là người nữ. Nhưng đọc kĩ, lại nhận ra trong truyện của Nguyễn Thị Lê Na, nhân vật nữ có cái mầm mống của sự nổi loạn bản năng phái tính. Dường như không ít trong số họ có cái tâm thế bất như ý, bất phùng thời, bất tuân những vòng kim cô kiểu tam tòng tứ đức, hay công dung ngôn hạnh.

Nói cách khác là sự thôi thúc, kích hoạt của những nguyện vọng về nữ quyền, về sự khai phóng bản thể, kể cả thân xác, sự tự do lựa chọn và dấn thân như những liều doping kích hoạt họ cả về thể xác, cả về tinh thần. Có vẻ như họ - những người nữ - không cam chịu trở nên mờ nhạt hay bị tẩy trắng giữa cuộc đời trần thế (cõi ta bà). Có vẻ như họ là những nhân vật của văn học “bước qua lời nguyền”, hay văn học “hồi sinh bản thể”.

Tác giả không cổ súy, đề cao họ nhưng cũng không bày đặt phê phán, chỉ tái hiện những cảnh ngộ, tâm trạng, số phận như nó vốn có. Tuy nhiên, ngấm ngầm sau những câu chữ có vẻ không cần nương tay khi viết là những tiếng thở dài khẽ khàng phập phồng trong lo âu, chia sẻ và đồng cảm kín đáo.

Có vẻ như cố tình đẩy nhân vật nữ ra giữa dòng thác đời thăm thẳm nhưng khi nhân vật nữ có nguy cơ chìm nghỉm thì tác giả lại có vẻ vô tình ném phao cứu hộ như trường hợp cô Thy – một người cố gắng gìn giữ tín niệm sống sau khi mãn tang chồng (“Giữa dòng thác”). Sự ra đi là một lựa chọn của nhân vật nữ cũng bởi có đồng minh đáng tin cậy là tác giả.

Tôi thấy Nguyễn Thị Lê Na là cây bút có nghệ thuật tung hứng khá điêu luyện qua miêu tả những mảnh đời, cảnh ngộ, tâm trạng, số phận éo le của các nhân vật nữ.

Vì thế, nếu cần viết một câu ngắn gọn về tập truyện thứ ba của Nguyễn Thị Lê Na thì, hẳn nhiên đây là một bộ sưu tập về những mảnh vỡ của mảnh vỡ, của kiếp người – phận liễu, phận đàn bà xưa nay.

Kể chuyện từ cái nhìn bên trong

Nói lý thuyết thì đó chính là việc nhà văn nắm vững biện chứng pháp tâm hồn của con người/ nhân vật lúc viết văn, lúc kể chuyện đời. Tác giả thể nghiệm cách ướm mình vào nhân vật chính khi kể chuyện nên người đọc có cái cảm giác tin cậy bởi sự chân thành, chân chỉ, chân phương của chữ và nghĩa.

Để đạt tới hiệu quả của lối kể chuyện từ bên trong tác giả riêng thích chọn cách kể từ ngôi thứ nhất, nhân vật kể chuyện xưng “tôi”. Cách kể này tạo độ tin cậy ở người đọc, đồng thời tạo khoảng rộng tự do cho người kể chuyện. “Vần vũ mây trời” là một truyện tiêu biểu cho lối viết từ cái nhìn bên trong (hướng nội).

Phận liễu xưa nay... -0
Tập truyện ngắn “Bể người thăm thẳm” của Nguyễn Thị Lê Na.

Nhân vật “Tôi” luôn tự vấn “Ngay cả lúc này, khi các cung bậc cảm xúc không còn như ngày trước thì trong tâm trí tôi cũng đau đáu bóng hình anh ấy” (anh ấy là Hiếu, chồng “Tôi”). Trong cảnh ngộ này nhân vật “Tôi” rơi vào trạng thái không khảo mà xưng “Những buổi chiều cô đơn, tôi thường đi bộ ra ngồi trên ghế đá ở công viên gần nhà. Nỗi buồn bã cô liêu xâm chiếm. (...). Tôi ngồi nhìn dòng người dòng đời ngược xuôi, thấy mình cô quạnh, đơn chiếc trong chiếc váy bầu rộng thùng thình. Miên man suy nghĩ trong nỗi cô đơn hoang hoải”. Có thể thấy, đó là moment (khoảnh khắc) người phụ nữ yếu đuối nhất, cần che chở nhất, cũng là lúc dễ ngã lòng nhất.

Nhân vật nữ của Nguyễn Thị Lê Na thường trải nghiệm những “điểm rơi” như thế trong đời sống riêng tư. Ở những điểm rơi ấy cá tính, tâm trạng, cảnh ngộ của nhân vật thường hiển hiện rõ ràng hơn bao giờ hết,  những điểm rơi điển hình như thế thường được sử dụng đi liền với những khoảng lặng (sự trống vắng tâm hồn, nỗi cô đơn), như một thứ thuốc thử hiệu nghiệm làm nổi rõ hình hài, thần thái, cảnh ngộ của nhân vật.

Với thể loại truyện ngắn thì đoạn kết thúc có ý nghĩa quan trọng hơn so với tiểu thuyết, bởi khi đặt bút viết đoạn mở đầu dường như tác giả đã nhằm sẵn đích đến của câu chuyện được kể, giống như vận động viên chạy cự li 100 mét đã nhìn thấy vạch đích trước mắt ngay sau khi hiệu lệnh xuất phát vang lên. Đây cũng chính là cái mốc để nhà văn phát huy cái nhìn từ bên trong, tái hiện thế giới nội tâm của nhân vật.

Với nhân vật nữ của Nguyễn Thị Lê Na thì quá khứ hay tương lai không quá quan trọng, không choán ngự tâm thế. Với bản tính trọng hiện sinh (cái đang tồn tại, hiện hữu), không hẹn mà gặp, những người nữ dẫu kinh qua bể khổ đời người đều chung cái tâm thế “Tự nhủ sẽ bắt đầu lại mọi thứ, bắt dầu từ những gì đang hiện hữu. Lòng tôi thư thái”. Nhân vật xưng “Tôi” trong truyện “Vần vũ mây trôi”, có thể nói điển hình cho kiểu nhân vật nữ trải qua những nghịch cảnh, những dang dở và đều có quyết tâm tái thiết cuộc đời.                         

Nhịp điệu văn xuôi

Thông thường, giới phê bình khi tiếp cận tác phẩm truyện đặc biệt chú ý đến chủ đề, kết cấu, nhân vật của tác phẩm và thuật kể chuyện của nhà văn. Nhưng tiếp nhận một tác phẩm truyện thì yếu tố “nhịp điệu văn xuôi” không thể không tính đến như một thành tố nghệ thuật quan trọng. Truyện của Nguyễn Thị Lê Na được đặc trưng bởi một nhịp điệu mang tính nhị nguyên, vừa gấp gáp vừa bình thản do sự cọ xát của hai hướng hành động của nhân vật khi tâm thế hướng ngoại hay hướng nội. Nhân vật nữ của Nguyễn Thị Lê Na thường có sự mâu thuẫn, giằng xé nội tâm.

Vì thế, khi tác giả men theo dòng tâm trạng tìm vào nội tâm thì câu văn chợt co kéo, ngắn lại; còn khi cần hành động thể hiện cá tính, bản lĩnh thì câu văn tự nhiên nở xòe ra linh hoạt “Tôi trở nên bình thản đến lạ. Bình thản với tất cả những gì xảy ra chung quanh. (...). Tự nhủ sẽ bắt đầu lại mọi thứ, bắt đầu từ những gì đang hiện hữu. Lòng tôi thư thái. Bên ngoài ô cửa sổ, điệu rơi của chiếc lá khô như một nốt nhạc lan tỏa giữa thinh không” (“Vần vũ mây trời”). Chính nhờ nhip điệu nước đôi này nên các hình thái tĩnh và động trong câu văn của Nguyễn Thị Lê Na khi sôi nổi, lúc trầm lắng nhịp nhàng như chính giai điệu của đời sống thực xung quanh chúng ta.

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân đã dành thời gian hơn một năm để biên soạn cuốn sách chuyên khảo công phu có tên gọi “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết”. Tác phẩm có dung lượng 600 trang với nhiều thông tin bổ ích này vừa được Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành.