Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Tôi “biết đến” nhà thơ Tô Hoàn dễ cũng gần bốn mươi năm. Nhớ năm 1988, đọc bài thơ “Đêm mưa” của tác giả Tô Hoàn trên Văn nghệ Quân đội thực sự cho tôi những cảm xúc trân quý: “Con về thăm mẹ đêm mưa/ Mới hay nhà dột, gió lùa bốn bên/ Bao nhiêu hạt thẳng hạt xiên/ Cứ nhằm vào mẹ những đêm trắng trời/ Con đi đánh giặc suốt đời/ Vẫn không che nổi một nơi mẹ nằm”.

Bài thơ ngắn gọn nhưng đầy trăn trở, nhớ thương và cả nỗi lo toan của một người con - người chiến sĩ đi đánh trận xa nhà. Với vẻn vẹn sau dòng thơ nhưng đã nói hết tấm lòng của đứa con xa đối với người mẹ tảo tần của mình. Bài thơ như một lời nhắc nhở, một lời ngợi ca người mẹ quê của mình.

Một giọng thơ nặng ân tình -0
Nhà thơ Tô Hoàn.

Tôi mang câu thơ đó rất nhiều năm trong tâm trí bởi tôi cũng từng là một người lính xa nhà 10 năm đi “trấn ải biên thùy”. Có lẽ sự đồng điệu trong lòng đã giúp tôi dù chưa gặp được người thơ nhưng đã đầy cảm mến. Mãi cho tới hồi tháng 10 vừa rồi tôi mới được gặp nhà thơ Tô Hoàn.

Bữa ấy chúng tôi lên Bắc Ninh dự họp cộng tác viên Báo Bắc Ninh. Phủ Lạng Thương (tên gọi cũ của đô thị Bắc Giang) mưa đầu đông lất phất nhẹ, cái lạnh se se như làm dòng sông Thương thêm se sắt. Dòng sông đúng như tên gọi của mình - Sông Thương nước chảy đôi dòng - giữa một chiều mưa lạnh càng làm dấy lên những ưu lo, những cảm thông thương mến.

Nhà thơ Tô Hoàn đến gần tôi, ông nói vừa đủ nghe: “Ông lên xe để tôi chở tới khách sạn nghỉ”. Một lời mời hay đúng hơn là một cử chỉ thân gần làm tôi thấy ấm lòng. Về tới chỗ nghỉ rồi mới hay đấy chính là nhà thơ Tô Hoàn, người mà tôi rất hay “gặp” trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội.

Vâng! Có lẽ vào một đêm mưa người chiến sĩ về thăm mẹ, anh chạnh lòng thương căn nhà dột của mẹ từng đêm, từng đêm những cơn mưa xôi xả vô tình dột vào. Đó là mưa rơi ngoài kia hay là mưa gió của cuộc đời mẹ lặng thầm hi sinh vì con vì cái? “Mưa rơi sợi thẳng, sợi xiên / Cứ nhằm vào mẹ những đêm trắng trời” anh thương mẹ bao nhiêu để rồi trách mình bấy nhiêu: “Con đi đánh giặc suốt đời/ Vẫn không che được một nơi mẹ nằm”.

Nhưng anh chiến sĩ ơi, đừng buồn nữa! Vì hành động đánh giặc kia của anh có khác chi lòng yêu Tổ quốc, mà tình yêu Tổ quốc vốn bắt nguồn từ tình yêu quê hương, yêu những người thân ruột thịt trong gia đình. Tình yêu mẹ của anh đã chan hoà trọn vẹn trong tình yêu quê hương đất nước rồi (Bài thơ này được bình chọn vào một trong số những bài thơ hay nhất thế kỉ 20 do do Trung tâm văn hóa doanh nhân và NXB Giáo dục phối hợp tổ chức, đã lựa ra được 100 thi phẩm xuất sắc và công bố trong đêm nguyên tiêu của Ngày thơ Việt Nam lần thứ 5).

Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi đã viết: “Đây là một bài thơ hay với mọi người đọc dù người đó thích thơ truyền thống hay thơ hiện đại, dù người đó thích thơ Việt vần điệu mượt mà ngân lên như hát hay theo thứ thơ “lai Tây” lủng ca lủng củng, lục cục lào cào! Bài thơ hay vì nó giản dị, ít lời và truyền cảm “Con về thăm mẹ chiều mưa/ Mới hay nhà dột gió lùa bốn bên”. 

Ông nhà thơ “của tình người” Nguyễn Bùi Vợi còn viết thêm: “Cái “chiều mưa” đúng là cái kíp nổ của bài thơ. Nếu hôm anh về thăm mẹ mà trời nắng thì tinh ý một chút anh cũng có thể biết là nhà dột nhưng không cảm được tận đáy lòng cái nỗi dột này!”.

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá còn nói thêm: “Thơ của Tô Hoàn là một giọng thơ nặng ân tình, có kỷ luật chữ, cấu tứ thông minh, tinh tế. Ông vẫn nhẹ nhàng như thế, rủ rỉ như thế, như thơ của ông vậy, không bao giờ ồn ào, kiên định một lối viết”.

Sinh năm 1949 quê ở xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc cũ, nay là phường Việt Yên, tỉnh Bắc Ninh. Chàng trai trẻ Tô Hoàn lên đường ra trận, trong ba lô người chiến sĩ luôn có cuốn sổ tay nhỏ, chàng lính trẻ Tô Hoàn tranh thủ ghi lại chặng đường chinh chiến của mình trong những lúc dừng chân nghỉ ngơi sau chặng đường hành quân vất vả. Hồn quê Kinh Bắc đã cùng Tô Hoàn vào mặt trận Trung Trung Bộ. Và chính trên mảnh đất Quảng Nam - Đà Nẵng, anh chiến sĩ Tô Hoàn đã sớm có những bài thơ được đăng báo. Anh trở thành Hội viên Hội Văn nghệ Đà Nẵng năm 1980.

Một giọng thơ nặng ân tình -1
Hai tập thơ của nhà thơ Tô Hoàn.

Năm 1989 ông xuất bản tập thơ đầu tay “Có một lời ru”, NXB Đà Nẵng. Một tập thơ ngay khi “mới chào đời” đã để lại nhiều dư cảm, kể cả những dư cảm làm lòng ông cả nghĩ “Dáng quê vẫn những dãi dầu/ Củ khoai hạt gạo cõng nhau qua mùa/ Làng mình vẫn chỗ làng xưa/ Thay tên đổi cổng mãi chưa ra làng” (Không) và “Ta nói với nhau có chân trời/ Cầu vồng sau mưa bình minh nõn chuối/ Mấy mươi năm bước chân nào cũng vội/ Chân trời ta đến vẫn xa xôi” (Chân trời).

Gặp nhà thơ Tô Hoàn dịp này đúng là vẫn thấy ông như thế, vẫn nhẹ nhàng rủ rỉ và chẳng có gì phàn nàn cả. Ông lặng lẽ viết, lặng lẽ cùng bạn bè, lặng lẽ ngắm mưa đông trên sông Thương. Thơ Tô Hoàn như chính con người của ông vậy, trải qua những gian khổ hy sinh, thơ ông nặng nợ với đề tài chiến tranh, người lính.

Ông tâm sự: “Người làm thơ tự tìm kiếm cho mình một giọng thơ riêng. Người thơ cần có tri âm, tri kỷ để sẻ chia, giãi bày. Nhưng thơ lại không hợp với ồn ào lòe loẹt. Theo tôi nghĩ, thời nào cũng vậy, với thơ, chỉ cần một từ HAY là đủ”. Bài thơ “Với xa xăm” ông đã viết: “Im tiếng súng người lính về với mẹ/ Bước như say trên cánh đồng chiều/ Màu áo bạc cánh rừng săng lẻ/ Khuôn mặt gầy như đã màu rêu”.

Cho mãi đến năm 2004, tức là sau đúng 15 năm, Tô Hoàn mới xuất bản tập thơ thứ hai “Phía nào cũng gió”, NXB Hội Nhà văn. Theo đó vẫn giọng thơ tiếp tục tư duy, xúc cảm của tập thơ đầu, anh viết về người lính sau chiến tranh, về người mẹ, người vợ, về cuộc sống của những người dân quê. Có lãng mạn, hào hùng: “Cùng bạn bè hát chót đỉnh Trường Sơn/ Một thời sống chết nhẹ tênh/ Cả dân tộc vặn mình như chão/ Người đứng thành rừng/ Người đi thành bão” (Để có ngày 30-4).

Ở tập thơ thứ hai này trên hết vẫn là quê hương, vẫn là mẹ. Cho dù viết ở thời điểm nào hay viết ở nơi nào thì thơ Tô Hoàn vẫn sâu lắng, vẫn tinh tế và như là một thông điệp về sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên. “Chúng con lớn, thế rồi đều xa mẹ/ Xa ngôi nhà mưa nắng có rêu xanh/ Bậc thềm vẹt những bước chân sứt mẻ/ Nơi mẹ ngồi thương nhớ trắng năm canh” (Phía mẹ).

Hay như: “Con là con của mẹ rừng/ Cùng bao đồng đội đã từng xa quê/ Đạn bom đói rét… dầm dề/ Mẹ nuôi nựng giữa bốn bề núi non/ Rừng là mẹ, lính là con/ Mẹ dang đôi cánh Trường Sơn bế bồng/ Dắt dìu qua bão, qua giông/ Mẹ ru nguồn cội suối sông vơi đầy” (Mẹ rừng Trường Sơn)

Nhà thơ Đỗ Nhật Minh đã viết: “Tô Hoàn là người lính trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Với 20 năm quân ngũ, ông đã qua chiến tranh ác liệt, qua nhiều cương vị khác nhau, trải bao hiểm nguy, cơ cực nên cũng giống bao người lính thời đó thấm thía tận cùng chiến tranh. Điều ấy lý giải vì sao anh luôn viết về người lính và chiến tranh với tất cả sự chân thực đáng quý”.

Và ở bài thơ “Tôi gọi rừng già”, người lính cũ Tô Hoàn, người thơ Tô Hoàn, đã thảng thốt: “Thế mà đã mấy mươi năm/ Ánh cây bóng cỏ bạn nằm giờ đâu?/ Rừng hoang rờn rợn một màu/ Cây năm dây đứng đan nhau rối bời”. Đó chính là tấm lòng, là tình cảm đồng đội và là nỗi tiếc thương day dứt.

Nhà thơ Tô Hoàn đã xuất bản: “Có một lời ru” (1989), “Phía nào cũng gió” (2004), “Giấc mơ của nắng”(thơ thiếu nhi, 2007), “Đã cuối mùa em” (2014). Ông nhận giải thưởng thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội; Giải thưởng thơ 5 năm của tỉnh Bắc Giang lần thứ II, lần thứ III; Giải nhì cuộc thi thơ kỷ niệm 60 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954 / 7-5-2014) do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức.

Nguyễn Trọng Văn

Các tin khác

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân đã dành thời gian hơn một năm để biên soạn cuốn sách chuyên khảo công phu có tên gọi “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết”. Tác phẩm có dung lượng 600 trang với nhiều thông tin bổ ích này vừa được Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành.

"Hang Hổ" - một bức tranh vùng cao mời gọi

"Hang Hổ" - một bức tranh vùng cao mời gọi

Tập "Hang Hổ" có 14 truyện ngắn, mỗi truyện là một bức tranh vùng cao theo các chủ đề khác nhau nhưng chung một phong cách trữ tình sâu lắng và hiện thực trào tiếu, tưởng như đối lập, xa nhau nhưng thống nhất tạo nên nét riêng ngòi bút Trần Nguyên Mỹ.