“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Trong thi ca Việt Nam hiện đại, chiến tranh luôn là một mạch nguồn lớn, nơi hội tụ những tiếng nói bi tráng, những suy tư nhân bản và những tìm tòi nghệ thuật không ngừng đổi mới. Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Tập thơ vì thế là một bản hợp xướng lớn về chiến tranh, ký ức và tình yêu quê hương, nơi cái riêng hòa tan vào cái chung, nơi những rung động chân thật trở thành nền tảng cho một phong cách thơ giàu suy tưởng và liên tưởng nhiều chiều.

Từ diễn ngôn sử thi sang hậu sử thi

Trong thơ ca, đề tài chiến tranh từng được kiến tạo chủ yếu trong mô hình diễn ngôn sử thi - nơi chủ thể trữ tình hòa tan vào cái “ta” cộng đồng, và hình tượng người lính được lý tưởng hóa như biểu tượng thuần nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Tuy nhiên, từ sau Đổi mới, cùng với sự dịch chuyển của ý thức hệ thẩm mỹ và sự trỗi dậy của cái tôi cá nhân, thơ ca bắt đầu tái cấu trúc diễn ngôn chiến tranh theo hướng đa thanh, phản tư và nhân bản hóa sâu sắc hơn.

img_3018.jpg -1
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.

Trong bối cảnh ấy, “Những người lính của làng” của Nguyễn Quang Thiều nổi lên như một trường hợp tiêu biểu cho sự chuyển đổi từ thi pháp sử thi sang thi pháp hậu sử thi. Tác phẩm không phủ nhận chiều kích cộng đồng, nhưng đã giải cấu trúc hình tượng người lính bằng cách đặt họ vào những trường liên tưởng đa tầng: ký ức - thân thể - cái chết - quê hương - và tính hữu hạn của đời người.

Một trong những thành công nổi bật của tập thơ là xây dựng hình tượng người lính bắt nguồn từ không gian làng quê. Ngay từ chương mở đầu, người lính hiện lên không phải như những chiến binh được “tạo hình” từ chiến trường, mà là những đứa trẻ lớn lên từ đất đai, từ sông nước, từ ký ức rất đỗi đời thường: "Chúng tôi lớn ào lên như ngọn gió/ Như con sông chảy qua làng mùa mưa…”.

Ở đây, người lính trước hết la ângười con của làng. Họ gắn bó với “con đường nhỏ”, “tiếng chó sủa”, “bông hoa đèn”, “lưng trâu”, “dòng sông”… Những hình ảnh này không chỉ tạo nên nền tảng hiện thực mà còn mang ý nghĩa biểu tượng: quê hương chính là cội nguồn tinh thần nuôi dưỡng họ.

Khi chiến tranh đến, sự chuyển hóa diễn ra tự nhiên mà đột ngột: "Chúng tôi không còn là trẻ con/ Chúng tôi vụt thành người lính”.

Câu thơ mang tính bước ngoặt, không chỉ là sự thay đổi thân phận mà còn là sự thay đổi ý thức. Người lính không rời bỏ quê hương, mà mang quê hương vào chiến trường. Chính điều này tạo nên chiều sâu tư tưởng khi chiến tranh không tách con người khỏi đời sống, mà là sự kéo dài đau đớn của đời sống ấy.

Sự bi tráng ở đây không chỉ là hy sinh, mà là sự hy sinh trong nhận thức đầy đủ về mất mát. Hình ảnh người lính ngồi chết tựa gốc cây: "Môi anh đọng nụ cười ba mươi tuổi/ Nắng lên rồi xòe cánh trước ngực anh”. Đây là một trong những hình tượng đẹp của trường ca: cái chết không bị miêu tả như sự kết thúc, mà như một trạng thái tĩnh lặng, thanh thản, hòa vào thiên nhiên. Bi tráng vì có đau thương, nhưng không tuyệt vọng; vì cái chết được nâng lên thành một giá trị nhân văn sâu sắc.

Điểm đáng chú ý đầu tiên là sự chuyển dịch từ hình tượng người lính như một ký hiệu tập thể sang một chủ thể mang tính cá thể hóa. Trong thơ chiến tranh giai đoạn trước (chẳng hạn Chính Hữu hay Phạm Tiến Duật), người lính thường được biểu đạt như một “kiểu nhân vật”, mang những phẩm chất chung: kiên cường, lạc quan, dũng cảm.

Nguyễn Quang Thiều phá vỡ mô hình này bằng cách: Tái hiện người lính như những cá thể có ký ức riêng. Nhấn mạnh những trải nghiệm thân thể (đói, khát, bệnh tật, ám ảnh). Cho phép sự yếu đuối, hoang mang và cả những khoảnh khắc phi anh hùng xuất hiện. Người lính vì thế không còn là “biểu tượng đóng kín” mà trở thành một chủ thể mở, nơi giao thoa giữa lịch sử và cá nhân.

Nếu chiến tranh là bối cảnh, thì tình yêu quê hương chính là mạch ngầm chi phối toàn bộ tập thơ. Điều đáng chú ý là tình yêu này không mang tính khẩu hiệu, mà được biểu hiện qua những chi tiết nhỏ bé, cụ thể, giàu cảm xúc.

Một trong những đoạn thơ ám ảnh nhất là hình ảnh đứa bé bú sữa mẹ đã chết: "Máu mẹ em, em tưởng lầm là sữa/ Em uống vào, sữa mặn, mẹ ơi!”. Đây là một biểu tượng mạnh. Quê hương không chỉ là nơi nuôi dưỡng, mà còn là nơi bị tàn phá. Tình yêu quê hương vì thế chuyển hóa thành nỗi đau. Và chính nỗi đau này làm sâu sắc thêm ý nghĩa của chiến đấu: không phải vì lý tưởng trừu tượng, mà vì những gì cụ thể, thân thuộc nhất.

Dù hiện thực đầy khốc liệt, tập thơ vẫn hướng tới một viễn cảnh: "Rồi mai đây người sẽ đến dựng nhà/ Sẽ sinh nở sẽ mỗi chiều nhóm lửa”.

Đây là một điểm quan trọng trong tư tưởng: chiến tranh không phải là đích đến, mà là con đường để bảo vệ sự sống. Người lính chiến đấu để “ngày mai” có thể tồn tại. Một nét đặc sắc của tập thơ là cảm xúc rất thật, không che giấu. Người lính trong thơ không phải là những “tượng đài vô cảm”, mà là những con người biết sợ, biết nhớ, biết đau.

Trong đoạn “Tiếng gọi”, người lính bị thương trong cơn sốt rét: "Anh khát nước/ Nhưng tìm đâu ra nước…”. Cơn khát ở đây vừa là khát nước, vừa là khát sống. Hình ảnh “liếm lên vách đất” là một chi tiết cực kỳ hiện thực, phá vỡ mọi lý tưởng hóa. Nhưng chính sự thật này lại làm cho hình tượng người lính trở nên cao cả hơn - bởi họ chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt nhất. Người lính không chỉ nhớ mẹ, mà còn nhớ người yêu: "Mười bảy tuổi em tóc dài hắt sáng/ Như con sông quê chảy dưới ánh trăng rằm”.

Tình yêu ở đây không tách khỏi chiến tranh, mà tồn tại như một nguồn năng lượng tinh thần. Nó giúp người lính vượt qua đau đớn, giữ lại phần người trong hoàn cảnh phi nhân.

Góp phần đổi mới ngôn ngữ và kết cấu thơ

Trong toàn bộ trường ca, “làng” không chỉ là một địa điểm địa lý mà là một không gian mang tính nguyên mẫu tương tự như “quê mẹ” trong nhiều nền văn hóa. Nó hội tụ các yếu tố: Nguồn gốc; Sự nuôi dưỡng; Bản sắc. Do đó, khi người lính rời làng ra chiến trường, thực chất là một sự “dịch chuyển bản thể”. Nhưng điều đặc biệt là họ không bao giờ rời khỏi làng về mặt tinh thần khi làng luôn hiện diện như một “trung tâm biểu nghĩa”.

Đối lập với làng quê là chiến trường - nơi các quan hệ nhân tính bị phá; Thân thể con người bị vật chất hóa; Sự sống và cái chết trở nên mong manh. Trong đối sánh này, Nguyễn Quang Thiều không cần trực tiếp lên án chiến tranh; chính sự đối lập không gian đã tạo ra mộtdiễn ngôn phê phán nội tại.

img_3017.jpg -0
Tập trường ca "Những người lính của làng".

"Những người lính của làng”có thể xem là một bước chuyển trong cách viết về chiến tranh. Thứ nhất, nó phá vỡ mô hình lý tưởng hóa người lính, đưa họ trở về với đời sống thực. Thứ hai, nó mở rộng biên độ cảm xúc, cho phép những yếu tố đau đớn, hoài nghi, riêng tư xuất hiện. Thứ ba, nó đổi mới ngôn ngữ và kết cấu, đưa thơ Việt Nam tiệm cận với những xu hướng hiện đại của thế giới. Quan trọng hơn, tác phẩm khẳng định một giá trị nhân bản sâu sắc: chiến tranh chỉ có ý nghĩa khi nó bảo vệ sự sống, khi nó gắn với con người cụ thể.

Với những tìm tòi về ngôn ngữ, kết cấu và tư duy hình tượng, tập thơ không chỉ là một tiếng nói về chiến tranh, mà còn là một đóng góp quan trọng cho sự đổi mới của thi ca Việt Nam đương đại. Ở đó, người đọc không chỉ bắt gặp những người lính, mà còn bắt gặp chính mình trong nỗi nhớ, trong tình yêu, và trong khát vọng được sống, được trở về với những gì giản dị mà thiêng liêng nhất là quê hương.

Tập thơ không có một giọng nói duy nhất, mà là sự cộng hưởng của nhiều giọng: Giọng kể; Giọng trữ tình; Giọng suy tưởng; Giọng bi ca.Theo cách nhìn của Mikhail Bakhtin, đây là một cấu trúc đa thanh, nơi các tiếng nói không bị quy về một trung tâm quyền lực duy nhất.

"Những người lính của làng” không chỉ là một trường ca về chiến tranh, mà còn là một thử nghiệm thi pháp. Bằng việc: Cá thể hóa hình tượng người lính; Tái cấu trúc không gian và thời gian nghệ thuật; Đưa thân thể và cảm giác vào trung tâm; Sử dụng ngôn ngữ biểu tượng và cấu trúc phân mảnh.

Nguyễn Quang Thiều đã góp phần mở rộng biên độ của thơ Việt Nam đương đại, đưa nó tiến gần hơn tới những xu hướng hiện đại và hậu hiện đại của văn học thế giới. Tác phẩm vì thế không chỉ có giá trị như một ký ức chiến tranh, mà còn như một diễn ngôn nghệ thuật về con người trong giới hạn của lịch sử là nơi cái hữu hạn của đời sống được nâng lên thành ý nghĩa tồn tại.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân đã dành thời gian hơn một năm để biên soạn cuốn sách chuyên khảo công phu có tên gọi “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết”. Tác phẩm có dung lượng 600 trang với nhiều thông tin bổ ích này vừa được Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành.