Sứ mệnh nhà thơ với trái tim biển, đảo

Văn học từ xưa đến nay thường viết về biển, đảo. Đó là chất liệu hiện thực mà bất kì người nghệ sĩ nào cũng ít nhất một lần sử dụng. Bởi lẽ, biển, đảo là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng, là máu thịt của Tổ quốc. Biển, đảo còn là nơi ghi dấu những cuộc thuỷ chiến ác liệt, tàn khốc nhưng đầy anh dũng, kiên cường của dân tộc ta. Với vai trò như thế, biển, đảo luôn là đề tài nằm lòng, đề tài lớn xuyên suốt chiều dài văn học Việt Nam.

Ý thức biển, đảo được hình thành từ lâu đời. Tâm thức biển, đảo gắn liền với văn hoá, văn học dân gian, thông qua các nghi lễ, diễn xướng, thông qua truyền thuyết, cổ tích, vè, dân ca… Và được lưu giữ trong các sách “Lĩnh Nam chích quái”, “Truyền kỳ mạn lục”, “Truyền kỳ tân phả”, “Thánh Tông di thảo”…; trong các truyện “Họ Hồng Bàng”, “Truyện dưa hấu”, “Từ Thức lấy vợ tiên”…; gắn liền với những sáng tác của các tác gia như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, vua Trần Minh Tông, vua Lê Thánh Tông…

Tiếp theo đó, tình yêu biển, đảo trong thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Hàn Mặc Tử, ,… lan toả, mở rộng hơn trong thơ Văn Cao, Hoàng Trung Thông, Xuân Quỳnh, Hữu Thỉnh, Bằng Việt, Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm,… và đến thơ Giang Nam, Vũ Quần Phương, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Đức Mậu, Anh Ngọc, Lê Thị Mây, Nguyễn Trọng Tạo, Thạch Quỳ, Hoàng Vũ Thuật, Nguyễn Ngọc Phú, Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Hữu Quý, Nguyễn Phan Quế Mai, Phan Hoàng,…

Trước hiện thực, thơ có nhiều ngả rẽ khác nhau, tuy nhiên phải khẳng định rằng, ở hướng nào, thơ cũng cần phát huy tối đa việc truyền cảm hứng tình yêu biển, đảo đối với bạn đọc. Tôi lấy ví dụ, những năm 2013-2014, Biển Đông đã dậy sóng trở lại sau biến cố Hoàng Sa (1974) và Trường Sa (1988), các thi sĩ bức xúc hoá thân, chia sẻ với nhân dân cả nước trước những hành vi gây hấn của phía Trung Quốc. Thơ ca viết về Biển Đông giai đoạn này vì thế chân thực hơn, nói thẳng không nói tránh, quanh co, nhưng vẫn giữ vững hào khí dân tộc.

Đại diện Hội Nhà văn Việt Nam trao lưu niệm cho các tác giả khu vực Bắc miền Trung có tác phẩm xuất sắc về biển đảo.
Đại diện Hội Nhà văn Việt Nam trao lưu niệm cho các tác giả khu vực Bắc miền Trung có tác phẩm xuất sắc về biển đảo.

Ở Bắc miền Trung, từ các thi sĩ gạo cội như Nguyễn Khoa Điềm, Thạch Quỳ, Hoàng Vũ Thuật, Ngô Minh, Hải Kỳ, Nguyễn Ngọc Phú,… đến Nguyễn Minh Khiêm, Lâm Bằng, Vân Anh, Nguyễn Văn Hùng, Trần Thu Hà, Võ Quê, Thái Hải, Võ Văn Hoa, Võ Văn Luyến, Phạm Nguyên Tường, Lê Vĩnh Thái, Nguyễn Lãm Thắng, Lê Tấn Quỳnh, Thy Lan,… đều nhanh chóng đăng đàn những cảm xúc nóng hổi về biển, đảo. Tất nhiên, không phải chờ cơ hội “được đau” thì các thi sĩ mới tung bút.

Thực ra, đề tài biển, đảo, ở thời kì trước, đã là cảm hứng sáng tác của nhiều thi sĩ như Nguyễn Khoa Điềm, Thạch Quỳ, Hoàng Vũ Thuật, Ngô Minh, Hải Kỳ, Nguyễn Minh Khiêm, Văn Đắc, Huy Trụ, Đinh Ngọc Diệp....

Những năm gần đây, khi có những sự cố, tranh chấp trên Biển Đông, cùng với văn nghệ sĩ cả nước, các thi sĩ Bắc miền Trung cũng đã nhanh nhạy, kịp thời đăng đàn chính kiến của mình. Có một điểm chung giữa các nhà thơ Bắc miền Trung là họ đều thể hiện chính kiến rõ ràng, thậm chí mạnh bạo trước lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc. Hình ảnh thơ đa tầng đa nghĩa, đậm chất triết lý.

Thơ Hoàng Vũ Thuật giàu chất thế sự. Biển đảo cũng là chủ đề trở đi trở lại trong sáng tác của ông từ xưa đến nay. Ông chưa bao giờ quên nỗi đau, mất mát quá lớn nơi đầu sóng ngọn gió: “chúng nó dùng súng và lưỡi lê/ bạch tuộc phun vòi xác chết/ những chú chim non vỗ cánh đầu tiên/ những đôi mắt lũ còng ngơ ngác/ số phận ngọn đèn lịm tắt// không còn súng thì ném cát vào mặt/ ngôi mộ gió khuyết dần/ không còn ngôi mộ gió/ Tổ quốc trong muối biển vẫn còn” (Đảo). Cánh đồng thơ của Nguyễn Minh Khiêm dung dưỡng “nhiều hướng gió”.

Nhưng tôi vẫn ấn tượng với cách ông phơi trải cuộc sống theo nhịp tâm hồn của thi sĩ: “528 mặt người dưới sóng/ 528 mặt người trong lá/ gió lao xao như tiếng khóc trẻ già/ loang loáng hiện lưỡi dao Pôn Pốt/ bỏ dở câu thơ đảo Xanh, đảo Nhạn/ bỏ dở câu thơ trăng mọc cầu tàu/ bỏ dở câu thơ thiên đường đảo ngọc/ ngước nhìn bày hải âu bay liệng chập chờn/ ngỡ 528 linh hồn dân đảo/ vẫy chào du khách/ tôi/ lặng/ trước/ Thổ Chu” (Lặng trước Thổ Chu).

Hồ Đăng Thanh Ngọc là một thi sĩ rất đỗi ráo riết trước đời sống văn chương và xã hội. Anh thường dùng thơ tự do và thơ Tân hình thức để gửi gắm tiếng lòng của mình. Trong lòng anh, biển luôn vẫy gọi: “…Biển của tôi ơi/ Biển của tôi ơi!/ Xin quỳ gối viết bài thơ dâng biển/ Mong bình yên muôn ngọn sóng điệp trùng/ Nhưng nếu cần hy sinh cho biển quê hương được sống/ Triệu triệu con tim bao đêm trằn trọc/ Sẽ lại hóa cảm tử thần trong sóng nước Bạch Đằng Giang” (Biển của tôi).

Lê Vĩnh Thái, thuộc thế hệ giữa 7X, nhưng đọc thơ anh, chúng ta thấy rõ niềm đam mê con chữ và một nỗi buồn trĩu nặng. Ngược với mảng thơ chắt lọc hướng về “trầm mặc” đời thường, khi viết về biển đảo, giọng thơ anh lại có phần sôi động và bạo liệt hơn: “dân tộc bốn ngàn năm/ đóng đinh vào kẻ thù xâm lược/ giờ, nghe quê hương bị lũ quạ diều vây/ con cá đưa vô miệng bị giật ngang cuống họng.../ quân giặc dẫn mưu đồ xâm lăng/ đời làm thơ/ thơ chưa trả nợ nước/ thân chưa đền ngửa mặt biết nhìn ai// tôi viết bài thơ quê hương/ đã nghe vang tiếng kèn hiệu lệnh/ con dân Việt giương cung thẳng tiến/ nơi biên cương Tổ quốc màu xanh/ Trường Sa - Hoàng Sa nay hóa Bạch Đằng/ đất nước ra trận/ biển cuộn sóng chôn lũ xâm lăng” (Con chim lạc bay về Tổ quốc).

Điểm qua như thế để thấy, thơ về biển, đảo là một đề tài quen thuộc của Bắc miền Trung. Tuy nhiên, đa phần các thi sĩ Bắc miền Trung chỉ viết rải rác, tản mạn, chứ ít tập hợp thành tập, tuyển về biển đảo. Theo sự nắm bắt của cá nhân tôi, tôi thấy chỉ duy nhất nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú có đam mê dài hơi cho đề tài biển, đảo với các trường ca như “Biển và tôi”, “Tổ quốc tôi ba ngàn cây số biển”,“Con đường thức”…

Bắc miền Trung luôn được xem là vùng phát triển của thơ ca, trong đó, Huế là cái nôi nuôi dưỡng và phát tiết tinh hoa. Tuy nhiên, nhiều thi sĩ nhưng không nhiều thơ viết về biển, đảo. Theo tôi, có nhiều lý do. Và đây cũng là lý do chung cho văn học viết về biển, đảo của cả nước. Trong sáng tác, nhà thơ không thể copy lịch sử biển, đảo một cách dễ dãi. Vì thơ vốn là thanh âm tế vi của cõi lòng. Thơ không thuộc về bản sao của lịch sử. Viết theo kiểu hô hào sẽ sa vào thơ cổ động.

Viết thiếu vốn sống, trải nghiệm thực tế, nếu tưởng tượng không khéo, quá đà đôi khi gây phản cảm cho người đọc. Bởi, không phải ai cũng có cơ may “vượt biển” để được đắm chìm trong không gian bao la, mênh mông và nhiều bí ẩn ấy. Bên cạnh đó, có một tồn tại không riêng gì của Bắc miền Trung, các cây bút thơ trẻ cả nước có phần dặt dè, e ngại, thậm chí lơ là, lười biếng trước đề tài biển, đảo. Đa phần, thơ cánh trẻ thường “ăn mình” và chăm chắm tỉa tót đời sống xung quanh.

Như vậy, mặc dù tình yêu biển đảo vẫn ngấm ngầm chảy trong thơ Bắc miền Trung, song so với cả nước, thơ về chủ quyền biển, đảo của Bắc miền Trung chưa thực sự nổi trội. Để thơ Bắc miền Trung đa dạng, phong phú hơn trước đề tài biển, đảo, theo tôi, trước hết, bản thân mỗi thi sĩ cần phải biết tạo cho mình cơ hội đến với biển, đảo; biết huy động cảm xúc và lòng yêu quê hương, đất nước; biết làm mới đề tài biển, đảo như gia tăng tính biểu tượng của thi ảnh, có những đổi mới về mặt ngôn từ.

Thứ hai, 6 tạp chí Bắc miền Trung đã có những việc làm thể hiện tính lâu dài như thường xuyên đăng tải thơ và làm chuyên trang về biển, đảo. Nổi trội hơn cả là trang online của Tạp chí Sông Hương có hẳn mục “Vọng ra biển” và đã từng làm chuyên đề “Biển đảo quê hương” để anh em văn nghệ sĩ có cơ hội trải lòng với với nơi sóng cồn gió giật của Tổ quốc và thông qua đó, giúp người đọc ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trước chủ quyền biển, đảo, quê hương.

Thứ ba, các tạp chí có thể kết hợp với Hội VHNT địa phương và bộ đội Hải quân tổ chức những chuyến thực tế biển, đảo hằng năm cho các hội viên, đặc biệt là các cây bút trẻ. Thứ tư, các tờ tạp chí cũng nên chủ động tổ chức các cuộc thi thơ sáng tác về chủ đề biển, đảo, để tạo động lực, khích lệ cho người sáng tác.

Và cuối cùng, cách thức tổ chức Hội thảo giao lưu 6 tỉnh Bắc miền Trung từ nhiều năm nay đã thực sự “quen thuộc”. Nếu chúng ta thử đưa vào chương trình những chuyến thực tế biển, đảo, biết đâu, đó cũng là cú hích sáng tạo đối với mỗi người nghệ sĩ và các tờ tạp chí có thêm nhiều thể loại sống động, hấp dẫn về biển, đảo hơn.

Huyền sử Lạc Long Quân và Âu Cơ đưa 50 người con lên rừng, 50 người con xuống biển, phải chăng đã khẳng định cội nguồn và vị thế chiến lược quan trọng của đất nước; thể hiện khát vọng giữ yên bờ cõi của cha ông ta ngày xưa, đồng thời khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa biển và đất liền?

Cội nguồn, dòng giống Tiên Rồng đã lan tỏa những bài học vô giá để chúng ta tiếp tục sứ mệnh giữ yên biển, đảo, xây dựng và phát triển đất nước. Tạo hóa cho nhà thơ “thiên nhãn”, hẳn nhiên anh ta phải biết gánh vác cây thánh giá cuộc sống, ý thức cao về cõi nhân sinh cũng như vận mệnh, trái tim biển, đảo của đất nước.

Hoàng Thụy Anh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).