Sự khó tính cần thiết

Trong cuộc sống, sự khó tính của ai đó nhiều khi gây mệt mỏi, phiền hà cho những người liên quan. Người ta thích những người dễ tính, thông thoáng hơn. Và những người khó tính thường ít bạn bè. Nhưng trong nghệ thuật - công việc có đặc thù riêng - thì sự khó tính của chủ thể sáng tạo lại luôn rất cần thiết bởi sẽ tạo nên sản phẩm chất lượng với lao động hết mình của người nghệ sĩ.

Nhiều tấm gương trong lĩnh vực đang bàn rất đáng nêu bài học cho những lớp đi sau học tập, tiếp bước. Trong giới nghệ sĩ sáng tác và biểu diễn đều có nhiều người tiêu biểu.

nvt copy.jpg -0
Nhạc sĩ Hoàng Vân (ảnh trên) và nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý - hai nhạc sĩ lớn luôn khó tính với tác phẩm của mình.

Hai nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý và Hoàng Vân sáng tác một ca khúc chỉ trong khoảng vài giờ, có khi một giờ. Những bài thành công, nổi tiếng của các ông luôn được viết một mạch khá dễ dàng. Nhưng tu sửa, hoàn chỉnh thì mất nhiều công sức, có khi cả tháng vẫn chưa ưng ý. Cả hai vị luôn đắn đo, cân nhắc từng chi tiết nhỏ ví như sử dụng hai nốt móc đơn liền nhau hay móc đơn có chấm dôi và móc kép. Chỗ nào hát mạnh, nhẹ (cường độ) đều ghi rất rõ trong bản nhạc.

Các ông nằm trong số ít những nhạc sĩ viết rất tỉ mỉ những nốt nhạc dạo đầu, gian tấu giữa các câu, đoạn nhạc và vĩ thanh mà thường nhiều tác giả bỏ qua việc này. Và yêu cầu người đệm đàn phải tuân thủ. Đánh khác đi, họ rất bực mình, sẵn sàng rút tác phẩm về. Hoàng Vân đồng thời là người sáng tác khí nhạc (nhạc không lời) giỏi nên phối khí hay. Phần lớn ca khúc của mình, ông đều tự phối khí và chỉ huy dàn nhạc đệm khi còn làm việc ở Đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam.

Riêng hai nhạc sĩ này, khi thu thanh tác phẩm, giới ca sĩ vừa thích các ông có mặt, lại vừa ngại. Thích vì các ông giúp họ nâng cao khả năng xử lý tác phẩm, tinh tế hơn khi biểu hiện, nhưng cũng ngại do các ông không dễ vừa ý nên cứ yêu cầu thu đi thu lại khiến họ vất vả.

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ là một trường hợp khá độc đáo về sự khó tính trong lao động nghệ thuật. Bài “Tiếng hát giữa rừng Pác Bó” (sáng tác năm 1959) ra đời sau một thời gian ngắn đã trở nên rất nổi tiếng, không người yêu âm nhạc nào lại không biết và thuộc. Vậy mà một lần, trước khi qua đời chỉ vài năm, ông bỗng phát hiện thấy mình thật ngớ ngẩn khi xử lý một chi tiết và đến Đài yêu cầu thu thanh lại, sẵn sàng chịu mọi phí tổn về việc này. Đó là câu ở cuối bài: “...Suối reo dưới chân Người qua, đất rung tiếng ca nở hoa tháng Tám...”.

Tiếng “Tám” ông để ngân 2,5 phách, mấy chục năm bao người vẫn hát như thế. Vậy mà ông lại muốn sửa lại chỉ để ngân 1,5 phách rồi bắt sang tiếng “Khuổi Nậm”, tức rút ngắn bớt trường độ. Quả là sửa lại như vậy sẽ hay hơn do mạch giai điệu không bị dề dà, ngưng đọng vì cả bài đã có nhiều chỗ ngân dài. Khi đề nghị thu lại, ai cũng nói: “Thôi anh ơi, bài đó quá tuyệt vời, nổi tiếng rồi. Ai cũng chấp nhận như vậy. Khỏi cần thu lại, rắc rối lắm”. Thế là Nguyễn Tài Tuệ đành chịu nhưng trong lòng vẫn thấy chưa ưng ý.

Khi tôi được một nhà xuất bản nhờ tuyển chọn những bài hát hay nhất về sông nước để ấn hành đã tìm Nguyễn Tài Tuệ để xin bài “Xôn xao bến nước”. Nhưng ông từ chối và nói: “Bài ấy của mình rất bình thường, không bằng nhiều bài của các tác giả khác”. Tôi nói: “Đó là vì anh tự khó tính với bản thân chứ công chúng rất thích bài này”. Thấy tôi tha thiết muốn in, ông nể, nói sẽ sửa lại đôi chỗ cho hiệu quả hơn. Nhưng rồi ông chủ động nói lời xin lỗi vì không sửa được hay hơn nên đề nghị tôi vui lòng để ông được từ chối. Tuy thất vọng nhưng tôi vô cùng nể trọng sự khó tính của ông. Trong khi đó, nhiều tác giả chủ động gửi cho tôi những bài kém chất lượng, viết dễ dãi nhưng cứ tha thiết muốn được in.

Khi bài hát đã nổi tiếng, lan tỏa rộng khắp mà tác giả vẫn muốn tiếp tục sửa còn có nhiều trường hợp khác. Bài “Quê em” của Nguyễn Đức Toàn có câu “Bao là gươm, bao là súng, đầu lưỡi lê đi chiếm lại làng quê ta”. Có lần ông nói với tôi: “Không hiểu sao lúc ấy mình lại viết rất lẩm cẩm như vậy. “Đầu lưỡi lê đi” rất vớ vẩn. Phải là “giương lưỡi lê đi chiếm lại...”. Mình đề nghị Đài thu âm lại, nhưng họ nói bài nổi tiếng từ lâu lắm rồi. Công chúng cũng chẳng để ý, mặc nhiên đã chấp nhận. Thế là đành chịu”.

Cũng như vậy, khi bài “Tiếng hò trên đất Nghệ An” của Tân Huyền đã trở nên quen thuộc, tác giả đến Đài phát thanh đề nghị thu lại câu “Nghệ An Xô viết vẫn là Nghệ An” sau sửa là “Quê ta nay vẫn xứng truyền thống Nghệ An”. Nhưng cũng không được đáp ứng vì lý do người nghe đã nghe quen, đã chấp nhận. Khi chưa qua đời, Tân Huyền nói với tôi là ông rất phiền lòng khi thấy nhiều người phê bình câu trên trong khi chính ông đã tự phát hiện, muốn sửa mà không được.

Cố NSND Trần Thị Tuyết mỗi khi tiếp nhận thơ từ người biên tập để chuẩn bị thu thanh thường dành nhiều thời gian để nghiên cứu trước. Cố nhà thơ Trần Mạnh Thường - người phụ trách chương trình Tiếng thơ trên Đài Tiếng nói Việt Nam có lần nói với tôi: “Khi nào cần có băng nhanh để phát sóng thì không thể đưa bài cho chị Tuyết. Chị ấy kỹ tính, quá cẩn thận nên không thể thu thanh ngay”. Tôi có nhiều lần chứng kiến sau khi thu thanh, tất cả mọi người từ biên tập viên đến công nhân thu thanh, có khi cả tác giả đều thấy ổn, nhưng Trần Thị Tuyết cho là chưa được, vẫn đề nghị thu lại.

Tôi nhớ mãi kỷ niệm lần được Đài Tiếng nói Việt Nam trao việc cùng với chị thu thanh trường ca “Sóng Côn Đảo” của nhà thơ Anh Ngọc để chuẩn bị phát sóng trong một chương trình kỷ niệm ngày thành lập Đảng. Chúng tôi thống nhất cứ đoạn thơ nào ở thể lục bát thì chị ngâm theo lối truyền thống. Còn những đoạn thể tự do thì tôi đọc trên nền nhạc hiện đại (mélodrame). Trường ca này phát sóng hết đúng 30 phút tức trọn một chương trình. Nhạc đệm là cả một dàn nhạc gần như dàn giao hưởng.

Sau khi thu xong lần đầu, bao giờ cũng nghe lại và thường thì thu đến lần thứ 3 là cùng, sẽ được. Ai cũng thấy đã quá tốt, rất hiệu quả. Vậy mà riêng Trần Thị Tuyết cứ nói chỗ này chưa được, chỗ kia chưa hay và yêu cầu thu lại. Khi ấy kỹ thuật thu thanh chưa như bây giờ, sai một tiếng phải thu lại cả giọng ngâm (hoặc đọc) lẫn nhạc đệm khiến các nhạc công không đồng tình.

Chị Tuyết nói: “Nhạc đệm thì ổn nhưng giọng thì chưa tốt nên phải thu lại. Tôi sẽ chi tiền túi để các bạn bồi dưỡng vì vất vả hơn”. Chị nói là làm. Tuy nhiên, các nhạc công đã nể chị mà đáp ứng nhưng không nhận tiền của chị. Chị khó tính trong công việc như thế. Ai cũng quý, nể nhưng bị “mệt” lây khi cùng làm việc với chị.

Sinh thời, Xuân Diệu là một trong những nhà thơ lớn rất khó tính trong việc lựa chọn chữ nghĩa. Một lần, khi tôi đang học lớp 10 phổ thông được nghe ông nói chuyện tại một trường đại học. Ông kể lại việc tu chỉnh bài thơ “Mưa” của mình. Câu thơ thứ 2 của bài là “Thì thào lá nói trong mành nước se”, ông cứ lưỡng lự mãi giữa “thì thào” và “thì thầm”. Ông nói “thì thầm” thì chỉ đơn thuần là nói nhỏ cho nhau nghe, không muốn ai nghe được. Còn “thì thào” thì vừa có ý đó, lại vừa như có âm thanh nhẹ nhàng như tiếng gió thoảng, tức là tiếng tượng thanh, sẽ hay hơn. Đắn đo rất lâu, cuối cùng ông chọn “thì thào”.

Lại nữa: Hai câu cuối cùng: “Thôi em, nghỉ việc khuya rồi. Chăn đêm em đắp cùng trời với anh”. Lúc đầu ông viết: “Cùng nhau ta đắp giữa trời chăn đêm”. Tôi nhớ sau khi ông nói việc sửa lại như trên, có một sinh viên nhanh nhẩu hỏi: “Thưa nhà thơ. Em thấy hai câu không khác gì nhau. Sao nhà thơ lại phải sửa?” Xuân Diệu trả lời: “Vậy là bạn chưa đọc kỹ cả hai câu trước và sau khi đã sửa. Câu chưa sửa chỉ là anh và em đều đang đắp chăn (là màn đêm) giữa trời. Quá bình thường, chỉ là một thông tin tuy nói tấm chăn vô hạn về kích thước (vì là màn đêm). Còn câu đã sửa có nghĩa anh và em ta đắp chiếc chăn đó. Đắp “với anh” tức là hai người trong một chăn. Còn câu trước khi sửa không có nghĩa này. Đằng nào hay hơn, tình yêu mãnh liệt hơn?”. Tôi nhớ là Xuân Diệu nói xong câu ấy thì cả hội trường vỗ tay rào rào hồi lâu, tỏ ý tâm đắc, thích thú lắm.

Còn có thể dẫn ra rất nhiều trường hợp người nghệ sĩ khó tính để tạo nên sản phẩm nghệ thuật. Chỉ như vậy mới mong đem đến cho công chúng những hiệu quả tối đa.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).