Sử dụng màu sắc qua di tích đình, đền, chùa miền Bắc

Màu sắc được sử dụng trong các di tích tôn giáo tín ngưỡng tiêu biểu miền Bắc thường phân ra làm hai dạng: màu sắc bản thân vật liệu và màu sắc được tạo ra bằng các dạng vật liệu sơn phủ bề mặt.

Đình làng

Là một trung tâm văn hóa của làng, nơi diễn ra nhiều sự kiện sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng, lễ hội…, xét về đối tượng thờ và cách thức thờ thường thấy là một nhân vật. Không gian bài trí trong đình xưa không có tượng, khu vực thờ chính thường chỉ có hệ thống nhang án, hoành phi, câu đối, cửa võng …,về sau này (khoảng cuối thế kỷ 19) mới xuất hiện tục thờ hậu Thần, hậu Phật. Một số ngôi đình mới có hệ thống tượng (đình Lai Bồ, huyện Ba Vì, Hà Nội). Tuy nhiên, nếu xét về tổng thể màu sắc thì các ngôi đình vẫn giữ được nét truyền thống của người Việt xưa.

Sử dụng màu sắc qua di tích đình, đền, chùa miền Bắc -0
Đình Hàng Kênh.

Trong đình, việc sử dụng màu sắc từ các vật liệu sơn phủ thường không được sử dụng dàn trải và đồng đều. Khác với các loại hình di tích tôn giáo tín ngưỡng khác, màu sắc trong đình làng thường được chú ý ở một không gian nhất định (nơi đặt bài vị - gian giữa) có thể ở phía bên ngoài (tòa Đại Bái) hoặc bên trong (các diện vách, cửa bao che phía trước hậu cung). Khi nhìn vào ngôi đình nhận thấy rất rõ sự phân chia chính-phụ bằng các hình thức sử dụng màu sắc với các khoảng không gian khác. Tại khu vực thờ, màu sắc sử dụng thường thấy đó là: màu son (sơn ta).

Trên các hệ thống vách gỗ, hay một số cấu kiện kiến trúc như cột, xà giữa, câu đầu, đầu dư, màu vàng (thếp vàng) được nhấn vào các chi tiết chính như bàn thờ, nét chữ của những bức hoành phi, câu đối hay một số các đồ trang trí. Màu chủ đạo tại khu vực thờ thường là vàng, đỏ, đen (trong đó màu đen chủ yếu làm nền để bật lên các hình hoặc họa tiết hoa văn trang trí có màu vàng hoặc đỏ. Các không gian còn lại của ngôi đình có màu nâu với các sắc độ khác nhau (màu tự nhiên của vật liệu gỗ xây dựng lên ngôi đình) và màu đỏ với các sắc độ khác nhau (màu tự nhiên của vật liệu làm từ đất nung như gạch, ngói).

Để thấy, trong đình làng màu sắc được sử dụng phần lớn là màu sắc bản thân của vật liệu, xét về tổng thể màu sắc trong ngôi đình chính là màu tự nhiên của hệ thống vật liệu xây dựng lên ngôi đình với màu nâu làm chủ đạo. Đây là một trong những yếu tố đã tạo nên bản sắc trong ngôi đình Việt.

Chùa

Đặc điểm dễ nhận thấy nhất trong không gian sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng các ngôi Chùa Việt vùng Đồng bằng Bắc bộ đó chính là màu sắc của hệ thống tượng thờ dầy đặc.

Các di tích tôn giáo tín ngưỡng của người Việt, tại nơi thờ, các chi tiết trang trí và màu sắc luôn được chú trọng. Ở các ngôi đình theo cách bài trí của người xưa, không gian thờ tự thường tập trung tại gian giữa còn các không gian lân cận thường để thoáng tạo ra không gian sinh hoạt cộng đồng.

Với các ngôi chùa Việt vùng Đồng bằng Bắc bộ thì khác, hệ thống tượng thờ dầy đặc và dàn trải hầu như tất cả các gian trong di tích. Trong chùa đối tượng thờ chính vẫn là Phật (Phật Tổ, Phật A-di-đà, Bồ tát). Mật độ hay sự bài trí tượng thờ phụ thuộc vào các tông phái của đạo Phật. Trong chùa Việt có 2 sự khác biệt lớn trong sự bài trí cũng như số lượng các tượng thờ đó là tông phái Tiểu Thừa (Phật giáo nguyên thủy phổ biến ở miền Nam bộ) và tông phái Đại thừa, Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Mật Tông, Khất Sĩ).

Ở phái Tiểu Thừa chỉ thờ một vị giáo chủ là Phật Thích-Ca còn hầu hết ở các tông phái khác phổ biển ở Đồng bằng Bắc bộ ngoài thờ Phật Tổ còn thờ rất nhiều Thần, Phật khác như Ngọc Hoàng, Phổ Hiền, Nam Tào, Bắc Đẩu, Quan Thế Âm Bồ Tát …). Ở tông phái Tiểu Thừa đối với tượng thờ thường chỉ có một, chính vì vậy hệ thống tượng thờ cũng ít nên hệ thống tượng không tạo nên màu sắc đặc trưng và chủ đạo trong không gian chùa.

Còn ở các chùa Đồng bằng Bắc bộ, với hệ thống tượng dày đặc với đủ các màu sắc và được bài trí theo cấp độ từ thấp đến cao. Màu sắc tượng thờ cũng có những nét đặc trưng riêng. Tượng Phật Tổ thường được phủ lớp màu vàng toàn thân thể hiện sự cao quý, tôn nghiêm và sự kính cẩn của con người dành cho các vị Phật. Còn với các tượng Thần, Phật khác, màu sắc được phối theo đặc trưng của chi tiết (màu hồng phấn của da người, màu sắc quần áo, mũ mã…). Dù màu sắc của yếu tố này rất đa dạng nhưng nhìn chung vẫn là các màu vàng và đỏ làm chủ đạo nổi bật lên không gian thờ.

Cấu trúc của hệ thống kết cấu trong các ngôi chùa thường thuộc dạng đơn giản với các họa tiết thưa (dạng vì nóc chồng rường, cọc báng). Các cấu kiện như nghé, bẩy cũng đơn giản hơn các ngôi đình nhưng hệ thống kết cấu này lại được chú trọng trong việc sử dụng sơn màu. Tại các vị trí đặt bàn thờ, vị trí bày tượng thường được sơn son (đỏ) trên đó có họa tiết rồng, mây vv… Cách sử dụng màu sắc được sử dụng trên cấu kiện kiến trúc và đồ trang trí với màu vàng và màu đỏ để tôn lên ở các không gian thờ.

Sử dụng màu sắc qua di tích đình, đền, chùa miền Bắc -0
Chi tiết màu sắc trang trí trên bản hiên Đền Vua Lê (Hoa Lư, Ninh Bình).

Về màu sắc chủ đạo trong chùa: khác với nhưng ngôi đình làng dễ nhận biết hơn về màu sắc chủ đạo. Trong chùa, gần như không thể một số màu chủ đạo nhất định để đại điện bởi sự phong phú và đa dạng trong phong cách sử dụng màu sắc. Và cũng từ sự đa dạng này đã tạo nên nhiều biến đổi trong không gian tôn giáo tín ngưỡng của chùa Việt, nhất là ở các ngôi chùa mới bây giờ. Với hệ thống tượng dày đặc ở các ngôi chùa vùng Đồng bằng Bắc bộ (đa số là chùa theo phái Đại Thừa). Một thành phần màu sắc chủ đạo có yếu tố quyết định đó là màu sắc của hệ thống tượng thờ (số lượng dầy đặc, và được đặt ở các không gian thờ tự chính). Chính vì thế ta có thể thấy rằng tổng hòa màu sắc của hệ thống tượng thờ sẽ mang một màu sắc cụ thể, chủ đạo trong không gian bên trong chùa.

Ngôi chùa mang màu sắc chủ đạo là màu Nâu (Chùa Thầy - Quốc Oai, Hà Nội, Chùa Mía - Đường Lâm, Sơn Tây) là một điển hình. Các hệ thống tượng trong chùa này mang màu sắc nâu trầm là chủ yếu, kết hợp với màu sắc của hệ khung gỗ (màu nâu) cùng với nguồn sáng yếu, nên trong sự tổng hợp giữa các màu sắc và ánh sáng là một màu nâu trầm.

Ngôi chùa mang màu sắc chủ đạo là Nâu - Vàng (ở những ngôi chùa có hệ thống tượng được thếp vàng, hoặc sơn màu vàng). Màu này ta thường thấy ở các ngôi chùa với hệ thống tượng mới.

Ngôi chùa mang màu sắc chủ đạo là Nâu - Vàng - Đỏ (ở những ngôi chùa có hệ thống tượng và các cấu kiện trang trí được sử dụng nhiều màu vàng, đỏ).

Đền

Cũng như các loại hình di tích tôn giáo tín ngưỡng khác là luôn có yếu tố chính phụ, sự ưu tiên và các quan niệm về sử dụng màu sắc. Màu sắc chủ đạo trong đền khác với chùa là: Màu sắc chủ đạo trong không gian di tích không đến từ hệ thống tượng dày đặc giống chùa, cũng không đến từ vẻ bộc lộ kết cấu và vật liệu thô giống như đình.

Các ngôi đền được dựng lên để thờ các nhân vật là các vị anh hùng hay những người có công với đất nước. Mỗi ngôi đền thường chỉ thờ một nhân vật cụ thể. Chính vì vậy màu sắc ở tượng thờ không phải là yếu tố quyết định đến cảm quan chung về màu sắc trong không gian đền. Trong các ngôi đền như đền Ngọc Sơn (Hoàn Kiếm, Hà Nội), đền Vua Đinh, Vua Lê (Hoa Lư, Ninh Bình) … nổi bật lên màu sắc được sơn phủ ở trên những cấu kiện kiến trúc hay các đồ mang tính chất trang trí: cửa võng, hoành phi, câu đối…

Màu sắc được sử dụng trên các thành phần này thường sử dụng là màu đỏ, vàng, trong đó màu đỏ thường là nền, màu vàng là các họa tiết trang trí. Sử dụng màu sắc có thể nhận thấy: Màu vàng không được sử dụng quá nhiều và dày đặc giống như chùa, màu vàng thường được phủ các bề mặt, hoặc cấu kiện nhỏ, hay các chi tiết chạm khắc trang trí thành phần. Màu đỏ được sử dụng nhiều hơn trên các cấu kiện kiến trúc. Màu nâu (màu sắc tự nhiên của vật liệu) hệ thống xà, rui, hoành, các hệ vì phụ … là màu sắc chủ đạo còn lại trong di tích.

Màu sắc trong đền ta có thể thấy, đó là sự kết hợp hài hòa giữa màu sơn son, màu vàng và màu nâu. Màu sắc chủ đạo trong đền: với hệ khung vàng trang trí thường mang các màu đỏ (sơn son), vàng (thếp vàng), nâu (sơn ta và màu tự nhiên của gỗ). Từ đó có thể nhận thấy rằng dù hệ thống tượng có mang màu sắc gì đi nữa nhưng với tỉ lệ ít sẽ không ảnh hưởng tới màu sắc chủ đạo chung trong di tích.

Như vậy, qua đây ta có thể thấy rằng: màu sắc chủ đạo trong đền là màu của hệ khung kết cấu và các đồ bài trí. Chính vì vậy, màu Đỏ - Nâu - Vàng sẽ là các màu sắc chủ đạo của loại hình di tích này.

Nguyễn Thị Thu Hương

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).