Sự độc đáo của “Chuyện tình Khau Vai”

Viết một đề tài nào đó về vùng dân tộc thiểu số là một thử thách không nhỏ đối với các tác giả người Kinh. "Chuyện tình Khau Vai" đã vượt qua được thử thách ấy...

Từ xưa tới nay, tình yêu vẫn là đề tài chưa bao giờ nhàm chán của văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung. Nhiều nhà văn, nhà thơ lớn trên thế giới dù làm thơ, viết truyện ngắn, tiểu thuyết hay sân khấu, đều khó vắng bóng đề tài này. Ngay cả trong những tác phẩm sử thi hay xã hội, chủ đề chính tuy không phải tình yêu, thì ái tình vẫn được khai thác như một chất liệu, một cái cớ, để tạo thêm không khí và dư vị cho tác phẩm.

Những bộ tiểu thuyết đồ sộ như "Chiến tranh và Hòa bình" hay "Anna Karenina" của L.N. Tolstoy; "Sông Đông êm đềm" của M.A. Sholokhov (Nga); "Trăm năm cô đơn" của G.G. Márquez (Columbia, Nobel Văn học, 1982); "Nhà thờ Đức Bà Paris"  của Victor Hugo (Pháp); "Hồng lâu mộng" của Tào Tuyết Cần, Cao Ngạc (Trung Quốc)... và một khoảng thời gian chưa xa là "Tiếng chim hót trong bụi mận gai" của M. McCulough (Australia).

Đa phần, khi khai thác nó, cả ở tiểu thuyết và kịch bản  sân khấu, người ta hay nhấn vào tính bi kịch của tình yêu, những mối tình tan nát, nhiều oan trái, điển hình như "Hamlet" hay "Romeo và Juliet" của Shakespeare đều có những cái kết không có hậu.

Còn các bộ tiểu thuyết gọi là có hậu lại thường chung một motif là, mọi oan nghiệp được giải đáp, những mối tình thủy chung được bù đắp. "Truyện Kiều" của cụ Nguyễn Du cũng có xu hướng này khi cho Kiều tái hồi Kim Trọng, giải cái oan nghiệp ba đào truân chuyên đầy bi kịch của nàng Kiều. Khi văn học, nghệ thuật hướng thiện, nhân bản, nếu cho tác phẩm nào đó một cái kết có hậu, thì sự thật của văn học lại thường có tính dị bản, phần lớn các mối tình trong thực tế đều có những oái oăm của nó. Nhiều mối tình đổ vỡ, không ngọt ngào, không tới được hôn nhân, thậm chí đau thương.

Bìa tiểu thuyết “Chuyện tình Khau Vai” của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ - (Nhà xuất bản Văn học, 2019).
Bìa tiểu thuyết “Chuyện tình Khau Vai” của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ - (Nhà xuất bản Văn học, 2019).

Có lẽ  sự độc đáo nhất của tiểu thuyết "Chuyện tình Khau Vai"  của tác giả Nguyễn Thế Kỷ là sự trượt ra ngoài cái quy luật chung, trong hai hướng nói trên của văn học thường thấy.

Câu chuyện tình giữa nàng Út, con một tộc trưởng người dân tộc Giáy và chàng trai tên Ba người dân tộc Nùng là một bi kịch đến cùng. Một mối tình đẹp hoàn toàn bị tan vỡ không dẫn đến hôn nhân, nhưng cái kết của câu chuyện lại đẩy đến một "cái hậu" khác lạ.

Trong tiểu thuyết của Nguyễn Thế Kỷ nhiều nhân vật đã chết, kể cả nhân vật chính là nàng Út. Đôi trai gái, nàng Út và chàng Ba mãi mãi bị chia lìa,  song lời hẹn thề sẽ gặp lại nhau mỗi năm một lần trong phiên chợ Khau Vai đã được thời gian giữ lại như một lời nguyền cho tới tận hôm nay. Những người còn sống ở các thế hệ nối tiếp đã tiếp tục nối dài cuộc hò hẹn ấy, làm nên một phiên chợ tình có một không hai trên thế giới - Chợ tình Khau Vai.

Truyền thuyết về phiên chợ mỗi năm họp một lần vào ngày 27 tháng 3 âm lịch ấy được lưu truyền mãi mãi, là sự bất tử của một mối tình tuyệt đẹp nhưng dở dang. Cái kết của câu chuyện tiểu thuyết không được lãng mạn theo dạng thức thông thường của các chuyện cổ tích hay truyền thuyết về tình yêu. Nhân vật của mối tình ấy sau khi thất bại cũng không biến thành "hòn vọng phu" (vật thể) hay một sinh vật nào đó tồn tại trên thế gian như trong các câu chuyện cổ tích, mà mối tình ấy trở nên bất tử trong đời sống tinh thần của con người vùng cao nguyên đá. Bóng dáng của truyền thuyết cứ thấp thoáng dưới những phiên chợ có thực.

Một mối tình từ trong truyền thuyết đã được tái hiện một lần trong kịch bản sân khấu "Chuyện tình Khau Vai" (cũng của Nguyễn Thế Kỷ, năm 2013), và giờ đây được tác giả tái hiện lần nữa trong tiểu thuyết cùng tên. Tuy nhiên nó đã được xây dựng có đầu cuối, lớp lang, được mở rộng ra và đi sâu hơn chứ không chỉ còn là một truyền thuyết truyền miệng chỉ vài câu kể là hết. Cái kết của câu chuyện được xây dựng lại, hết sức độc đáo, giàu tính nhân ái và cũng rất thực tế nhằm giải thoát cho sự oái oăm đầy bi kịch thường thấy của tình yêu. Một cuốn tiểu thuyết bi tráng và rất hấp dẫn. Thực mà hư. Tưởng hư mà lại thực.

Nắm vững điều rất lạ ấy, để vượt qua  hệ logic thường thấy của tiểu thuyết ái tình nhuốm màu truyền thuyết, Nguyễn Thế Kỷ đã dày công xây dựng "Chuyện tình Khau Vai" trở thành một cuốn tiểu thuyết độc đáo. Nó đã băng qua tất cả các motif bấy nay trong thi pháp tiểu thuyết, trở thành một phát hiện độc đáo của văn học Việt, từ một truyền thuyết độc đáo hiếm có trong văn hóa các tộc người miền núi phía Bắc.

Bằng rung động của một nhà văn - nghệ sĩ và khả năng khai thác tư liệu của một nhà nghiên cứu, Nguyễn Thế Kỷ đã tạo ra được một câu chuyện dày dặn, lắm lớp lang, gần như hàm chứa những ưu điểm cốt lõi nhất, những điều cần thiết nhất mà thi pháp tiểu thuyết đòi hỏi với hệ thống nhân vật, cảnh huống, cấu trúc ngôn ngữ, những mâu thuẫn, những diễn tiến hết sức hợp lí.

Điều đáng nói thứ hai về sự độc đáo của "Chuyện tình Khau Vai" là việc xây dựng hệ thống nhân vật. Nguyễn Thế Kỷ đã tạo ra được thêm nhân vật trung tâm bên cạnh nhân vật chính của mọi riềng mối phức tạp. Đó là nhân vật Tộc trưởng của người Giáy. Từ hình thức bề ngoài đến đời sống nội tâm đều độc đáo, đầy cá tính. Chính nhân vật Tộc trưởng này cũng trải qua một mối tình ngang trái, một đời sống tâm hồn luôn bị giày vò trước những cái chết: "Bà ấy cuối cùng đã bỏ ông ra đi. Cả hai người phụ nữ, một được ông yêu, một yêu ông cho đến lúc chết, đều đã bỏ đi".

Xây dựng nhân vật Tộc trưởng với tình tiết đã yêu chính mẹ của chàng Ba (người yêu của nàng Út) mà không lấy được, đã biến ông trở thành người đàn ông suốt đời không cười với vợ, có chăng một lần duy nhất khi đứa con gái yêu cất tiếng chào đời.

Phải nói rằng, hệ thống  nhân vật của tiểu thuyết đã được cấu dựng khá phong phú, sắc nét, có nhiều nhánh rẽ bên cạnh trục chính là hai nhân vật nàng Út và chàng Ba. Đó vốn dĩ là nghệ thuật mang tính kinh điển của thi pháp tiểu thuyết. Phát triển hệ thống nhân vật này đòi hỏi văn bản luôn phải đảm bảo tính logic chặt chẽ. Ở đây, mỗi nhân vật được gây dựng khá sinh động, tính cách riêng rõ nét, số phận riêng ấn tượng, khiến cho toàn bộ câu chuyện tiểu thuyết trở nên sinh động, hấp dẫn, lôi kéo, giữ được độc giả tới trang cuối cùng.

Viết một đề tài nào đó về vùng dân tộc thiểu số là một thử thách không nhỏ đối với các tác giả người Kinh. "Chuyện tình Khau Vai" đã vượt qua được thử thách ấy. Người đọc nhận ra rằng, đây là câu chuyện của những người dân tộc thiểu số. Nhận ra bởi sự ví von, đối đáp, tư duy được vật hóa gần gũi với đời sống. Nhận ra bởi tâm hồn con người luôn gắn liền, giao hoà với vật thể, từ ngọn núi, con suối tới hòn đá, nhành cây v.v...

Trong tiểu thuyết này có rất nhiều đoạn thoại khá đặc sắc. Nguyễn Thế Kỷ đã nắm chắc được đặc tính ngôn ngữ dân tộc thiểu số mà tạo ra những đoạn thoại để độc giả tin cậy. Đó là những đoạn thoại ngắn, trực diện, giàu sắc thái ngữ điệu của người dân tộc thiểu số, tác giả đã chứng tỏ sự làm chủ thi pháp đến độ nhuần nhuyễn khi viết tiểu thuyết, khi phản ánh tâm hồn và văn hóa các tộc người vùng cao. Trong cuốn tiểu thuyết này, có hai trường đoạn tả về đám ma và đám cưới của đồng  bào hai dân tộc Giáy và Nùng. Đây là những vấn đề dễ vấp váp, sơ hở nếu tác giả không am tường văn hóa tộc người bản địa. Nguyễn Thế Kỷ thêm một lần nữa chinh phục bạn đọc ở sự khả tín khi tái hiện một cách tinh tế hai hình thái văn hóa quan trọng này của hai dân tộc Giáy, Nùng chứ không phải chỉ là kể chuyện sao cho hiện thực trong tiểu thuyết gần cận với sự thật của đời sống.

Nguyễn Thế Kỷ có lẽ là cán bộ chính trị cao cấp ít ỏi hiện nay vừa làm quản lý lại vừa say mê nghiên cứu lý luận và sáng tạo văn học, nghệ thuật. Liên tục từ năm 2013 đến nay, ông đã viết thành công hai tập sách dày dặn lý luận về văn hóa, văn nghệ; hai tập thơ (một tập thơ viết cho thiếu nhi); bảy kịch bản sân khấu được nhiều nhà hát  ngoài Bắc, trong Nam dàn dựng và biểu diễn.

Đó là "Chuyện tình Khau Vai", "Mai Hắc Đế", "Hừng Đông", "Thầy Ba Đợi", "Hoa lửa Truông Bồn", "Huyền thoại Gò Rồng Ấp", "Ngàn năm mây trắng" v.v... góp phần đổi mới và sinh động hóa đời sống sân khấu đất nước hiện nay. "Chuyện tình Khau Vai" là tiểu thuyết đầu tay nhưng Nguyễn Thế Kỷ đã chứng tỏ một nội lực phong phú, bản lĩnh.

Được biết, ông sẽ lần lượt tổ chức lại các kịch bản sân khấu, bổ sung thêm các tình tiết, tình huống và nhân vật, sáng tạo ra một số cuốn tiểu thuyết cùng tên và khác tên. Hy vọng Nguyễn Thế Kỷ sẽ thành công ở lĩnh vực mới đầy thử thách và gian lao này.

Ngọc Hà, mùa thu 2019

Nguyễn Văn Thọ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).