Sông Hằng chảy từ thiên giới...!!!

Từ nguyên của sông Hằng linh thiêng là “Ganga”, hiện thân của nữ thần Ganga - con gái Hymalaya - vị thần bảo hộ - Mẹ vĩ đại của đất nước. Truyền thuyết kể rằng để cứu người dân thoát khỏi nạn hạn hán khốc liệt, thần Sihva đã kéo một dòng sông từ trên trời cao thiên giới cho chảy qua đầu tóc mình hàng ngàn năm rồi đổ xuống trần gian.
 

Những ngày đầu tháng 5-2021 này các phương tiện truyền thông liên tục đưa tin đất nước Ấn Độ đang chịu sự hoành hành dữ dội của Đại dịch COVID-19 với hàng chục triệu người mắc bệnh, mỗi ngày có tới hàng chục ngàn người nhiễm, hàng nghìn người chết vì thứ virus viêm đường hô hấp cấp độc ác... Cảnh bệnh viện la liệt bệnh nhân, cảnh xác người la liệt chờ hỏa táng... Người Việt Nam ai cũng đau xót, ai cũng muốn sẻ chia hoạn nạn với người bạn bè thủy chung, với đất nước là cái nôi của văn hóa châu Á, nhất là mảnh đất của Phật...

Nhưng cũng trên truyền thông người ta thấy mỗi sáng vẫn có hàng trăm người Ấn giữa đại dịch đi tắm trên sông Hằng. Không khẩu trang. Không giãn cách. Họ hầu như không biết hoặc không cần biết Đại dịch là gì...

Sông Hằng hiền hòa!
Sông Hằng hiền hòa! 

Đó mới đích thực là Ấn Độ!

Ấn Độ hiền hòa vốn là đất nước của tôn giáo!

Từ nguyên của sông Hằng linh thiêng là “Ganga”, hiện thân của nữ thần Ganga - con gái Hymalaya - vị thần bảo hộ - Mẹ vĩ đại của đất nước. Truyền thuyết kể rằng để cứu người dân thoát khỏi nạn hạn hán khốc liệt, thần Sihva đã kéo một dòng sông từ trên trời cao thiên giới cho chảy qua đầu tóc mình hàng ngàn năm rồi đổ xuống trần gian.

Trong kinh Vê đa cũng dành những ngôn từ trang trọng nhất ca ngợi dòng sông Hằng có chức năng hóa giải mọi tội lỗi, tẩy rửa mọi uế tạp. Theo tín ngưỡng Hindu - dân tộc chiếm đa số lục địa Ấn, nếu tắm trên sông Hằng tức là mọi tội lỗi được gột bỏ. Nếu uống nước sông trước khi chết là một điềm may mắn cho cả người sống và người về với trời cao. Nhiều người Hindu còn yêu cầu được hỏa thiêu bên bờ sông Hằng rồi rải tro cốt lên dòng sông.

Suốt chiều dài lịch sử, từ khi có truyền thuyết, mỗi buổi sáng, khi bình minh lên, có hàng vạn người dân Ấn Độ đổ ra bờ sông Hằng để tắm, để gặp gỡ, chia sẻ, trò chuyện. Với họ đó là một ân huệ lớn của cuộc đời nên không có sức mạnh nào có thể tước bỏ ân huệ đó, kể cả thứ virus COVID đáng sợ nhưng mà vô hình kia...

Trong biểu tượng nhân loại thì “nước” vốn tượng trưng cho sự thanh tẩy dục vọng hướng con người tới miền nhân từ sáng láng. Vì là dòng chảy nên “sông” là biểu tượng cho sự đổi mới và tái sinh. Hơn thế, còn là biểu tượng cho sự trong sạch (vì được tẩy uế) và công cụ giải thoát. Nhưng với văn hóa Ấn Độ thì dòng sông Hằng thần thánh còn mang nghĩa biểu tượng cao hơn là “ban tặng sự phồn vinh và sự cứu vớt đầy phước lành”. Thế nên, những ai tắm ở sông Hằng sẽ được nữ thần “truyền cho sự tinh khiết vào trái tim”. Hầu hết tín đồ đạo Hinđu tin chắc chắn là vậy!

Sông Hằng trở thành vị thần bảo trợ cho cuộc sống và con người đất nước Ấn Độ, là sông Mẹ tuôn dòng chảy văn hóa vào cơ thể xã hội Ấn Độ. Nơi nào thiếu thứ nước tâm linh từ dòng chảy tinh thần đó, nơi đó không phải Ấn Độ!

Truyền thuyết nguyên thủy nhất kể nữ thần Ganga luôn ở tư thế đứng trên một con quái vật biển, vốn là phương tiện đi lại của Bà. Vẻ mặt thần thánh của Bà vừa nghiêm nghị, bao dung vừa phúc hậu, thánh thiện. Hình dáng Bà cho thấy một biểu tượng về sức mạnh, sự cao thượng, lòng dũng cảm. Bà luôn đội vương miện để lộ vầng trán cao thanh khiết, sáng ngời. Bà luôn đeo vòng cổ trễ xuống bộ ngực sung mãn biểu tượng cho khả năng ban tặng sự phồn vinh...

Truyền thuyết này là điểm tựa để có hai bộ sử thi bất hủ là “Ramayana” và “Mahabharata”, những sử thi cổ đại đồ sộ bậc nhất thế giới. Riêng “Mahabharata” đã có độ dài bằng 7 lần “Iliad” và “Odyssey” cộng lại.

Một trận chiến bên bờ sông Hằng trong “Ramayana”!
Một trận chiến bên bờ sông Hằng trong “Ramayana”!

Có thể khẳng định kết cấu của sử thi “Mahabharata” đồ sộ là kết cấu của dòng chảy sông Hằng vĩ đại vì dòng sông như một biểu tượng nghệ thuật diễn tả đời sống tâm linh các nhân vật chính, chi phối, sai khiến nhân vật như một thủ lãnh tinh thần. 

Phần mở đầu của sử thi kể về nguồn gốc các gia hệ có cái cốt chính là dòng họ Vasus mắc tội với đạo sĩ Vasita nên chịu đầu thai xuống trần làm những đứa con của nữ thần sông Hằng và vua Santanu. Vừa ra đời những đứa trẻ ấy đã được mẹ (nữ thần) ném xuống dòng sông để giải thoát họ khỏi bùa chú của đạo sĩ. Đây chính là một cổ mẫu vĩ đại bất biến để về sau ai cũng muốn tắm ở sông Hằng với khát vọng rửa bỏ tội lỗi. Môtip được tắm ở biển và nước sông thiêng trở thành biểu tượng chung cho văn hóa nhân loại nói về sự đổi mới, tái sinh. 

Thần Lửa trong thần thoại Hy Lạp vốn là một cậu bé nghịch ngợm, hiếu động, một lần chọc quấy thần Dơt nên bị quẳng xuống biển, không may rơi trúng vào một hòn đảo nên bị thọt chân. Từ đó thần Lửa đi bị khập khiễng (bập bùng như lửa vậy!). Trong thần thoại Ai Cập, hoàng tử Morann con vua xứ Cairpe khi sinh ra là một quái vật bị câm liền bị ném xuống biển. May thay nước biển làm vỡ cái mặt nạ quái vật để rồi sau nay hoàng tử trở thành một quan tòa vĩ đại... Nhưng trong số tình tiết ấy thì ý nghĩa tắm nước sông Hằng là bền bỉ nhất, được nhiều người làm theo nhất. Và có thể sẽ còn mãi mãi một khi còn sông Hằng! 

Khi các cuộc chiến tranh theo tinh thần sử thi xảy ra, sông Hằng như một chứng nhân lịch sử. Chỉ có ở không gian sông Hằng các nhân vật mới có thể “ngộ” ra chân lý và đạo lý cũng như những nguyên lý của đời sống tâm linh Ấn Độ, của tinh thần Ấn Độ là hòa bình, vị tha. Nước thiêng giúp họ trở về với cội nguồn tính người để hóa giải thù hận. Trước dòng nước sông Hằng kẻ có tội sẽ nhận ra tội mà sám hối... 

Có một sự kiện không ai bỏ qua khi đọc “Mahabharata” là khi nhân vật phản diện Aswatthama bỏ trốn đến bờ sông Hằng với ý định trả thù một cách tàn khốc nhất là giết chết đứa cháu của dòng họ Pandava còn đang trong bụng mẹ nhưng hành động này bị nhân thần Krishna vô hiệu. Rồi cả dòng họ Pandava tha thứ cho hắn... Thì ra sông Hằng đã thánh thiện hóa con người. Từ đó tha thứ trở thành một tính cách Ấn Độ, một nét tâm linh Ấn Độ.

Kết thúc chiến tranh, dù chiến thắng nhưng không có khúc ca khải hoàn, vì dù sao thì chiến tranh cũng là hủy diệt, cả hai phía. Vua Yudhisthira chiến thắng lên ngôi vị cao nhất nhưng không có lễ hội hoành tráng nào. Chỉ là một nghi lễ cúng tế: “Nhà vua đi tới sông Hằng và đúng theo tục lệ cổ truyền dâng đồ cúng tế cầu siêu cho linh hồn những kẻ qua đời được yên nghỉ”. Cần nói rõ hơn là nhà vua cầu siêu cho mọi linh hồn đã khuất, cả bên này, cả bên kia, không phân biệt. Chi tiết này cho thấy rõ hơn ý nghĩa nhân văn của việc vua lên ngôi mà không có nghi lễ tương xứng. Đấy là một bản sắc Ấn Độ!

Chưa hết, vua Yudhisthira còn được miêu tả khi đứng trước sông Hằng, ông như đứng trước thánh đường tôn nghiêm, thiêng liêng và vô cùng kỳ bí để rồi tâm trạng nổi lên sự dằn vặt về những gì mình gây ra đau khổ cho người khác. Ông sám hối. Ông tự phán xử và tự trừng phạt mình. Ông trở thành biểu tượng cho sự chịu đựng và nhẫn nhục... 

Biểu tượng này đi vào văn hóa Ấn trở thành một châm ngôn sống và hành động: “Nhẫn nhục là đức tính cao cả nhất!”, “Chịu đựng là danh tiếng, chịu đựng là vinh quang!”. Vũ trụ quan của người Ấn Độ cũng là: “Toàn bộ sự vật vận hành theo nguyên lý chịu đựng!”. Thế nên ta hiểu thời hiện đại cách mạng Ấn Độ dựa trên nguyên tắc bất bạo động! Vì các ý niệm về đạo đức chịu đựng và nhẫn nhục đã thành nền tảng tinh thần xã hội Ấn!

Trong sử thi “Ramayana” các nhân vật luôn cầu nguyện và vái lạy sông Hằng. Nhân vật luôn coi dòng sông là điểm tựa sức mạnh, điểm tựa đạo lý để hành động. Đấy là một tín điều như một hằng số ở mỗi nhân vật. Truyền thuyết kể vua Xagara sai sáu mươi ngàn người con đi tìm con ngựa tế bị mất. Những người con ấy đã đi khắp thế gian, cuối cùng tìm thấy con ngựa ở gần thần Kapila. Họ liền cho rằng Ngài là kẻ ăn trộm. Nổi giận, thần Kapila thiêu cháy tất cả các con của vua Xagara. 

Người cháu của vua là Angxumana nhận được lời khuyên: “Phải làm lễ cúng nước thiêng Ganga. Được vậy thì tro than của sáu mươi ngàn người này sẽ lên cõi trời”. Quả thế, được cúng nước sông Hằng linh hồn những người đã chết được siêu thoát lên miền cao cực lạc. Truyền thuyết ăn sâu, hằn vết trong tâm thức Ấn: Khi chết được thiêu xác ở bờ sông Hằng là một hạnh phúc!

Truyền thống phải luôn nhịp cùng hiện tại để con người bước vào văn minh. Khư khư giữ lấy truyền thống sẽ là bảo thủ. Cả thế giới đang nỗ lực cao nhất để ngăn dịch... nhưng ở Ấn Độ thì chưa vậy. Đó là bài học: Viên ngọc truyền thống được soi dưới ánh sáng khoa học hiện đại sẽ càng rực rỡ hơn!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).