Sông Đáy một chiều thu

Sau khi rời khu rừng trúc nơi có đền thờ danh tướng Lý Thường Kiệt bên sông Đáy chúng tôi về thành phố Phủ Lý. Tất cả dừng chân trên cầu Hồng Phú để ngắm hợp lưu ngã ba giữa sông Đáy và sông Châu Giang.

Bất ngờ loa thành phố vang lên bài ca “Dòng sông quê anh, dòng sông quê em” của nhạc sĩ Đoàn Bổng (phổ thơ Lai Vu). Dân thành phố Phủ Lý luôn tự hào với quê hương của mình: “Dòng sông Đáy quê em/ Sông trăng hay sông lụa/ Nong kén vàng như lúa/ Tròn vành một góc trời...”.

Sông Đáy chảy vào đời tôi

Người hướng dẫn viên bồi hồi kể về con sông quê với bao ký ức dội về. Anh chậm rãi đọc những câu thơ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều để bắt đầu câu chuyện. Hình ảnh con sông âm vang lên nỗi niềm: “Sông Đáy ơi, sông Đáy ơi…chiều nay tôi trở lại/ Mẹ tôi đã già như cát bên bờ/ Ôi mùi cát khô, mùi tóc của mẹ tôi”. Sau đó anh khoát tay nói sông Đáy dài tới hơn 250km chạy quanh như một dải gấm phơi trên những cánh đồng cùng bên núi non xanh thắm. Đây là nguồn nước bắt nguồn từ sông Hồng vùng cửa khẩu Phúc Thọ (Hà Nội). Khi nhập với sông Châu Giang ở Phủ Lý, nước sông Đáy mênh mông chảy xuôi về Nam Định và Ninh Bình rồi đổ ra biển Đông.

2-vời vợi sông đáy quê tôi.jpg -0

Vùng đất thành phố Phủ Lý có những con hồ rộng đều nối mạch nguồn từ sông Đáy nên quang cảnh thật kỳ thú. Đầu tiên là hồ Chùa Bầu rộng hơn 6ha không bao giờ cạn nước và có chùa Bầu soi bóng hàng trăm năm qua. Điều thú vị là, đường bao quanh hồ lấy tên Nguyễn Du và kề bên là công viên Nguyễn Khuyến (thuộc phường Hai Bà Trưng). Hai danh nhân này đã gắn bó với sông Đáy một thuở với tình cảm thân thương.

Nhà thơ Nguyễn Khuyến quê ở Hà Nam cũng đã than buồn vì cảnh ngập lụt ngày nào trên quê hương: “Quai Mễ Thanh Liêm đã lở rồi/ Vùng ta thôi cũng lụt mà thôi/ Gạo dăm ba bát cơ còn kém/ Thuế một vài nguyên dáng vẫn đòi” (Nước lụt Hà Nam). Riêng nhà thơ Nguyễn Du có dịp đi thuyền tới ngã ba hạ lưu sông Đáy, tại cửa Gián Khẩu. Ông ngẩn ngơ vì cảnh sắc hữu tình: “Cầu nối cuối thôn mở cánh đồng/ Núi xanh lớp lớp mắt ngóng trông/ Nước lên ngư đẩy thuyền tàn nắng/ Lối cũ tiều về gánh sáng trăng”. Tâm hồn thi nhân bay bổng cùng những hoài niệm nhớ nhung và đã viết tiếp: “Khói tỏa đôi bờ nhà lác đác/ Cây xuân mấy khóm nước mênh mông/ Cố nhìn quê quán nơi đâu nhỉ/ Trắng một màu mây cánh cánh hồng” ("Chiều sông Đáy" - Thảo Nguyên dịch).

Sông Đáy trở thành dòng sông thi ca khi càng có nhiều thi nhân đã theo những đoàn thuyền về phương Nam. Cùng thời với Nguyễn Du, chúa Trịnh Sâm và nữ sĩ Hồ Xuân Hương cũng đã để lại dư vị đáng ngạc nhiên khi đi trên sông Đáy. Đặc biệt khi dong thuyền qua dãy tường núi Kẽm Trống (cách Phủ Lý tám dặm) để vào hang động, Hồ Xuân Hương hứng khởi reo lên: “Hai bên là núi, giữa là sông/ Có phải đây là Kẽm Trống không/ Gió dập cành cây khua lắc cắc/ Sóng dồn mặt nước vỗ long bong”. Rồi cái hóm hỉnh tài hoa của nữ sĩ vẫn lồ lộ hiện hình khi chơi chữ: “Ở trong hang núi cong hơi hẹp/ Ra khỏi đầu non đã rộng thùng/ Qua cửa mình ơi nên ngoái lại/ Nào ai có biết nỗi bưng bồng”.

Sông Đáy đã làm nên thành phố Phủ Lý bởi lẽ nguồn phù sa nơi đây đã giữ chân người tụ về lập ấp, trồng trọt cấy lúa sinh sôi. Từ ngọn nguồn sông được gọi tên Hát Giang (Phúc Thọ - Hà Nội) nơi Hai Bà Trưng thất bại sau khởi nghĩa đã trẫm mình không để giặc nhà Hán bắt giữ (năm 43). Đây cũng là khởi nguồn cho nhạc sĩ Lưu Hữu Phước viết bài ca “Hát Giang trường hận” (viết khoảng 1942-1943).

Sau này bài ca chia sẻ yêu thương này đã được nhà nước ta dùng và đổi tên là “Hồn tử sĩ”. Sau nhà thơ Lai Vu viết lời cho bài hát: “Dòng sông quê em, dòng sông quê anh”, còn có nhà thơ Tế Hanh, Nguyễn Hoa, Nguyễn Quang Thiều… cũng đã để lại những kỷ niệm sâu sắc với sông Đáy. Nhà thơ Tế Hanh xúc động khi trở lại nơi sơ tán cũ: “Sông vẫn như xưa chảy một dòng/ Theo mùa nước đục nước xanh trong/ Sơn Tây đất rắn, Hà Đông mịn/ Sông Đáy nơi đâu cũng mát lòng”.

Đất và lửa ngọn nguồn gốm Son

Giờ thành phố Phủ Lý đã có những khách sạn 5 sao và những khu đô thị hiện đại. Nhưng điều kỳ lạ ở bên sông Đáy vẫn còn đó một khu đất vàng dành cho những lò gốm thủ công. Đó chính là hồn cốt của Hà Nam và của thành phố trẻ này. Người Hà Nam là vậy luôn lấy phù sa ngọn nguồn của sông Đáy làm lẽ sống. Trở về với cố hương bởi con người cũng có lúc trở thành cát bụi. Đúng như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã cất tiếng: “Bao nhiêu năm làm kiếp con người/ Chợt một chiều tóc trắng như vôi/ Lá úa trên cao rụng đầy/ Cho trăm năm vào chết một ngày/ Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi…”.

Một không gian lầm lũi của Phủ Lý là đây. Đó là những mỏ đất cách thành phố chừng mươi cây số. Khói nung củi và than vẫn bay bên triền núi Ngọc và chùa Bà Đanh. Sông Đáy hiền hòa trôi về phương suối Yến chùa Hương mang theo mùi đất thơm của gốm son. Đây là một xứ sở gốm độc đáo đã từng ngự trị 600 năm từ thời triều Trần. Tới nay các nghệ nhân ở miền gốm Quế Sơn này vẫn đang phục dựng lại những đầu rồng hay nghê Việt cho những đền Trần ở Nam Định hay những chùa cổ ở Hà Nam.

Trấn Quế Sơn (Kim Bảng) được coi là cái nôi văn hóa cổ phong của Phủ Lý với những ngôi chùa và đền nức tiếng như Tam Chúc, Bà Đanh, Quế Lâm và động Thi Sơn (núi Quyển Sơn). Giờ đây là sự nghiệp khôi phục lại nghề gốm Quế Sơn (làng Đanh Xá cũ) nay là Quyết Thành. Niềm tự hào xưa về nghề nghiệp ông cha vẫn luôn vang vọng: “Quê tôi chạy dẻo bờ đê/ Bên bờ sông Đáy có nghệ thổ hoa/ Trai gái khéo léo tài hoa/ Chăm chỉ công việc nặn ra thước dùng”. Hoặc nói về phiên chợ luôn nhắc rằng: “Chợ Quế thì bán nồi niêu/ Qua chợ Giầm Giải thì nhiều luồng Thanh”. Thật thú vị biết bao khi nói về con gái Quế Sơn cũng được truyền tụng: “Đã nhìn thấy gái Quế Sơn/ Dẫu căm cũng nhớ, dẫu hờn cũng mê”.

6-chum rượu quế sơn.jpg -1
Chum rượu Quế Sơn.

Người đón chúng tôi tại xưởng gốm là nghệ nhân Lại Văn Tiến (sinh năm 1957). Ông cho biết đất bên sông Đáy có sắc vàng mịn, quánh và ít tạp chất, khi nung ánh lên màu sắc đỏ trầm độc đáo. Men được tạo nên từ đá ong non khi phủ lên vật phẩm tạo sắc son thắm mà không vùng gốm nào có được. Riêng bình hay hũ rượu ở đây nung già (1200 độ) nên có khả năng khử độc tố của rượu nhanh.

Ông còn xởi lởi kể có người rất mê tiểu sành ở đây vì có men son nuột nà. Tiếng ngân lên như chuông mỗi khi gõ vào thành tiểu. Người khách đó cứ thỉnh thoảng lại mua để tặng những ông bạn già chuẩn bị về cõi. Ông ta coi đó là món quà sang trọng cho hồn cốt tâm linh dù chỉ chôn cất tàn tro. Tiểu sành ở đây được nung từ đất sét vàng sông Đáy. Vậy nên có người coi đó là lâu đài cuối cùng cho cát bụi cuộc đời. Câu chuyện thật bất ngờ với chúng tôi. Và lời ca về thân phận của Trịnh lại vang lên từ một góc lò nung bập bùng ánh lửa: “Ôi cát bụi tuyệt vời/ Mặt trời soi một kiếp rong chơi”.

Bài hát về cố hương

Vòm lò nung Quế Sơn và chiếc tiểu sành có tiếng ngân của hồn vía thân phận bất ngờ xuất hiện trong thơ của Nguyễn Quang Thiều khi anh trăn trở bên sông Đáy. Những câu thơ trong “Bài hát về cố hương” của anh như sự chia sẻ nỗi yêu thương khôn cùng về miền đất ông cha. Hình ảnh sông Đáy trở đi trở lại trong thơ, truyện ngắn cùng kịch bản sân khấu “Mùa hoa cải bên sông”. Hình ảnh làng Chùa (Ứng Hòa - Hà Nội) bên sông Đáy luôn biến ảo trong sắc màu mà nhà thơ cặm cụi hàng giờ để vẽ trong ký ức nồng ấm của mình. Tranh của Nguyễn Quang Thiều luôn xuất hiện những chiếc bình gốm nghiêng đổ trong tâm khảm mơ mộng về quê hương.

Trong “Bài ca về cố hương” chiếc tiểu sành lại ngân lên tiếng lòng tác giả khi anh viết: “Tôi hát, tôi hát bài ca về cố hương tôi/ Trong những chiếc tiểu sành đang xếp bên lò gốm/ Một mai đây tôi sẽ nằm trong đó/ Kiếp này tôi là người/ Kiếp sau phải là vật/ Tôi xin ở kiếp sau là một con chó nhỏ/ Để canh giữ nỗi buồn - báu vật cố hương tôi”. Sông Đáy thật mỹ lệ trước ánh hoàng hôn rơi xuống. Thành phố sẫm tím, chiều buông cùng tiếng chuông nhà thờ ngân nga nơi ngã ba cuộn gió.

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).