Sông Đa Độ núi Đối - những dư âm lịch sử

Sông Đa Độ hợp cùng núi Đối không chỉ tạo nên phong cảnh sơn thủy hữu tình, lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa mà còn mang lại những lợi ích kinh tế thiết thực cho kinh đô Dương Kinh xưa mà nay là huyện Kiến Thụy, TP Hải Phòng.

Chúng tôi về đất Dương Kinh xưa giữa lúc nhiều lễ hội mùa xuân diễn ra tưng bừng, đặc biệt là Lễ hội Đua thuyền rồng truyền thống sông Đa Độ. Năm Giáp Thìn 2024 là lần thứ 17 lễ hội này được tổ chức với sự tham gia tranh tài của 360 vận động viên các đội đua, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Chúng tôi là những người từ phương Nam về tham dự hoạt động văn hóa mang ý nghĩa linh thiêng có từ lâu đời ở vùng đất phát tích Vương triều Mạc với kinh đô Dương Kinh do Thái tổ Mạc Đăng Dung gây dựng.

Từ dải yếm màu nhiệm của quý phi

Đa là nhiều. Độ là bến. Đa Độ là con sông có nhiều bến: bến nước, bến đò, bến cá. Tôi biết đến sông Đa Độ khi về dâng hương Khu tưởng niệm Vương triều Mạc ở xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng. Một con sông thủy vực đẹp, nước trong xanh kỳ ảo tạo nên không khí mát mẻ trong lành hiếm có giữa thời ô nhiễm khắp các nguồn nước.

1.jpg -0
Quang cảnh sông Đa Độ núi Đối.

Vùng đất này tương truyền có một thôn nữ xinh đẹp được một hoàng tử phải lòng yêu say đắm. Cuộc hôn nhân diễn ra tốt đẹp. Hoàng tử kế thừa ngai vàng. Thôn nữ trở thành quý phi được vua sủng ái cận kề. Buồn thay, vì không sinh được con nên bà xin nhà vua được trở về quê quán sống với người thân. Từ chối mọi của cải châu báu ban thưởng, quý phi chỉ xin nhà vua cấp cho một dải đất ven biển còn hoang hóa.

Khi được nhà vua trực tiếp đưa trở về chốn xưa hai người từng gặp gỡ, quý phi thưa rằng, bà sẽ tung dải yếm thiên thanh lên và gió thổi bay đến đâu thì xin được nhận phần đất đến đó. Nhà vua cười đồng ý. Cuộn trong gió, dải yếm của quý phi bay qua làng Tiên Cầm của huyện An Lão đến làng Kỳ Sơn huyện Kiến Thụy ngày nay. Khi tiếp đất, dải yếm kéo dài mãi hóa thành dòng sông Đa Độ màu nước thiên thanh. Thế nhưng, có truyền thuyết cho rằng dòng sông này hình thành từ nước mắt của quý phi lặng lẽ rơi trong những đêm cô đơn giá lạnh nhớ thương đức vua.

Nằm gọn trong địa phận TP Hải Phòng, Đa Độ là con sông nhỏ được khai mở thêm từ dòng nước tự nhiên dưới thời nhà Mạc, là chi lưu của sông Văn Úc thuộc lưu vực sông Thái Bình. Đa Độ chỉ dài gần 49km, khởi nguồn từ sông Văn Úc ở cống thủy lợi Trung Trang chảy qua các quận huyện An Lão, Kiến Thụy, Kiến An, Dương Kinh, Đồ Sơn rồi lại hợp với sông Văn Úc qua cống Cổ Tiểu ở hạ nguồn trước khi đổ ra biển, nên người dân địa phương gọi Đa Độ là con sông “đâu lại về đấy”. Nguyên thủy hạ nguồn sông Đa Độ đổ vào vùng biển Đại Bàng ở Bàng La, Đồ Sơn nhưng về sau do cửa Đại Bàng bị bồi tụ, sông Đa Độ không kịp thoát nước nên đổi dòng chảy ra cửa sông Cổ Trai ở xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy rồi mới qua cửa cống Cổ Tiểu hợp lại với sông Văn Úc như ngày nay.

Do bắt đầu nhận nước sông Văn Úc tại thôn Câu Thượng, xã Quang Hưng, huyện An Lão nên sông Đa Độ còn được gọi là sông Câu Thượng. Đặc biệt, vì có dòng chảy tựa dáng thủy long uốn lượn hình thắt túi giống như thế của các con rồng trên các tấm bia đá cổ thời nhà Lý, lại uốn khúc vừa giống chùm bầu 9 quả nên con sông này ngày xưa còn có tên Cửu Biều Giang.

Trong sách “Đại Nam nhất thống chí” cũng ghi lại như sau: “Thế nước khuất khúc gọi là sông Cửu Biều; lại tách ra chảy về phía Nam qua xã Cẩm La, huyện Nghi Dương, đến Cổ Trai chia làm hai nhánh; một nhánh chảy về phía Nam vào sông Đa Ngư suốt đến cửa Úc, một nhánh chảy về phía Đông Nam đến bến Họng, có một lạch từ xã Đồ Sơn chảy đến đổ vào, suốt đến cửa Riêng…”.

Ẩn chứa bề dày lịch sử và giàu tiềm năng kinh tế

Dù là con sông nhỏ nhưng Đa Độ lại giàu tiềm năng kinh tế, gắn liền với nhiều sự kiện, nhân vật lịch sử, lưu giữ những giá trị văn hóa cổ, lặng lẽ đi qua những cánh đồng xanh thẳm thẳng cánh cò bay, những vườn cây sum suê trĩu quả, những làng quê giàu truyền thống, những phố xá đang thay đổi từng ngày trong gió biển của thành phố Cảng.

Việc sông Đa Độ chuyển dòng trước khi đổ ra biển đã để lại những dấu tích hình thành nhiều hồ đầm mênh mông như đầm Lá, đầm Cửa Phủ, đầm Chợ Xã, đầm Cửa Đồn... có tiềm năng nuôi trồng thủy sản. Đồng thời, bên cạnh nguồn thủy lợi tưới tiêu, sông Đa Độ cùng với sông Giá là hai con sông được đánh giá là sạch nhất của thành phố Hải Phòng hiện nay, cung cấp nguồn nước tương đối trong lành cho khoảng 30 nhà máy nước nhỏ và 1 nhà máy nước lớn là Cầu Nguyệt có công suất 40.000m3/ngày đêm cho sinh hoạt của người dân thành phố.

2.jpg -1
Lễ hội đua thuyền rồng sông Đa Độ lần thứ 17 năm 2024.

Sách “Giao châu thủy lục ký” tương truyền của tác giả Trương Phụ, viên tướng nhà Minh ghi chép khi đưa quân sang xâm lược nước ta, trong đó có nói về tuyến đường thủy qua các cửa Đại Bàng, Đa Ngư, Cổ Trai về Thăng Long, tức sông Đa Độ là một phần quan trọng của hệ thống giao thông này từ xa xưa.

Lịch sử cũng cho biết, khi vùng này chưa xuất hiện đập Tắc Giang, cống Cái Riêng hay Cái He… thì sông Đa Độ là một tuyến đường thủy có vai trò xung yếu kéo vùng cửa biển Hải Phòng lại gần với Kinh kỳ Thăng Long, nối Dương Kinh - kinh đô miền biển của nhà Mạc với Đông Kinh và các vùng đất khác của đất nước thời bấy giờ. Vì vậy, thuyền bè chuyên chở hàng hóa nhộn nhịp sông Đa Độ, hai bên bờ dân cư đông đúc, sầm uất, hình thành các thái ấp, điền trang lớn của những người có thế lực được triều đình ban phát như Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, các công chúa Quỳnh Trân và Chiêu Trinh, các tướng lĩnh Trần Quốc Thi và Vũ Hải…

Ngoài cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, có vai trò quan trọng về phát triển kinh tế nuôi trồng thủy sản, thủy lợi, du lịch sinh thái và văn hóa thì sông Đa Độ còn ẩn chứa bề dày lịch sử đầy huyền thoại, mang lại nguồn cảm hứng cho sáng tạo văn học nghệ thuật. Sông Đa Độ hợp cùng núi Đối ở Kiến Thụy tạo nên bức tranh sơn thủy thơ mộng. Đặc biệt, hai bên bờ sông vẫn còn bảo tồn nhiều công trình nghệ thuật kiến trúc, văn hóa cổ và những ngôi làng có bề dày truyền thống với các tục lệ độc đáo riêng biệt. Nếu như ngày xưa hai bên bờ sông là điền trang, thái ấp trù phú thì ngày nay đây là nơi có thể khai thác trồng các vườn cây ăn quả, xây dựng các khu nghỉ dưỡng, công trình thể thao. Còn dưới sông có thể tổ chức thường xuyên các hoạt động đua thuyền, lướt ván, thuyền văn hóa du lịch dọc sông.

Hạ nguồn trước khi sắp đổ ra biển, sông Đa Độ gặp hai ngọn núi cao gần bằng nhau nằm đối nhau, nên được dân gian gọi là núi Đối. Được phủ xanh bởi một khu rừng đặc dụng gồm thông và keo tai tượng, núi Đối hiện còn lưu giữ một số loài động vật như vượn bạc má, khỉ, cáo, chồn... Đồng thời, nhiều di tích thời chiến tranh giữ nước như hào lũy, hầm, lô cốt vẫn còn ở đây. Dưới chân núi có chùa Khánh Đối, một ngôi cổ tự linh thiêng. Tại đây đã hình thành thị trấn mang tên Núi Đối, trung tâm hành chính của huyện Kiến Thụy. Từ trên đỉnh núi Đối có thể nhìn bao quát toàn cảnh của thị trấn, mà điểm nhấn là cầu Núi Đôi, đường Tắc Giang nối đôi bờ sông Đa Độ và công viên Dương Kinh.

Đoạn sông Đa Độ chảy qua khu trung tâm huyện Kiến Thụy thì mở rộng ra như một hồ nước lớn. Lễ hội đua thuyền rồng diễn ra ở đây vào mùng 10 tháng Giêng hàng năm là hoạt động văn hóa truyền thống mang ý nghĩa linh thiêng, thể hiện lòng dũng cảm, ý chí kiên cường của người dân vùng đất Kiến Thụy vượt qua sóng gió, bão táp để làm chủ biển khơi, chiến thắng thiên tai và địch họa. Đồng thời, đua thuyền rồng cũng là hoạt động đặc trưng của ngư dân cầu mong mưa thuận gió hòa, sóng yên biển lặng để ra khơi may mắn, phát đạt. Ước mơ ấy của ngư dân Kiến Thụy, Hải Phòng cũng là mơ ước của mọi ngư dân nước ta đầu năm mới!

Phan Tấn Hùng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).