Sống chậm để thưởng thức

Chậm không phải là chậm chạp, đương nhiên thế, chậm là bình tĩnh, ung dung tự tại, chậm là kĩ càng chắc chắn, làm việc có xét đoán, suy nghĩ. Chậm là đủ hiểu đời và biết thích ứng với nó. Ấy là một tư thế và phong thái, để chậm được cũng cần rèn luyện và đòi hỏi những điều kiện nhất định...

Trong “Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung, có một chi tiết rất tầm thường mà tôi đặc biệt lưu ý đó là hai kẻ gian hùng bậc nhất Đổng Trác và Tào Tháo khi oai quyền lấn át thiên hạ, họ được ban một thứ quyền rất kì lạ: “vào chầu không phải bước rảo”. Hãy lưu ý cụm từ này, “không phải bước rảo”, nghĩa là được quyền đi chậm. Đi chậm nói lên điều gì? Nó là đặc quyền của thiên tử, chỉ có thiên tử mới có quyền đủng đỉnh, còn cận thần thì phải khẩn trương. Được quyền bước chậm trong khi vào chầu vua là một đặc ân rất lớn, tự nó đã toát ra ý nghĩa.

Đi chậm là uy quyền, điều này nghe có vẻ như mâu thuẫn vì bây giờ ai cũng muốn nhanh, đi nhanh làm nhanh, chậm chạp làm ru. Những kẻ như Đổng Trác và Tào Tháo được hưởng thứ quyền gì lạ vậy. Thưa không. Đi chậm, sống chậm là một quyền lực, người ta phải thế nào mới được quyền chậm. Sống chậm là thưởng thức.

Tất nhiên bây giờ chúng ta không cần uy quyền như Đổng Trác, Tào Tháo vẫn có thể sống chậm được. Chậm là một cách sống, một lựa chọn. Chậm là đã tiến lên một tầm mức mới, khi người ta có thể sống chậm, ấy là khi họ đã bình thản, tự tin và cũng đủ thành công trong đời.

Chậm không phải là chậm chạp, đương nhiên thế, chậm là bình tĩnh, ung dung tự tại, chậm là kĩ càng chắc chắn, làm việc có xét đoán, suy nghĩ. Chậm là đủ hiểu đời và biết thích ứng với nó. Ấy là một tư thế và phong thái, để chậm được cũng cần rèn luyện và đòi hỏi những điều kiện nhất định.

Luận về từ chậm, tôi lại nhớ đến một quyển tiểu thuyết của Milan Kundera tên tiếng Anh là “Slowness”. Ở lần đầu xuất bản bằng tiếng Việt, cuốn sách được dịch là “Chậm rãi”, rất tiếc sau này tái bản đổi tên là “Chậm”. Chậm và chậm rãi khác nhau nhiều lắm chứ. Từ thứ nhất chỉ sự chậm chạp đơn thuần, từ thứ hai là sự bình thản, an nhiên, tôi đã có ý kiến với dịch giả nhưng đáng tiếc sách đã ra rồi!

Người Việt ta ban đầu là chậm rãi, cứ nhìn những người đi bộ mà xem, nếu có ba người đi bộ trên đường, một người Đức, một người Nhật và một người Việt, tôi chắc chắn người Việt sẽ tụt lại phía sau nếu như không có một sự thúc ép hay đòi hỏi nào đó. Người Việt đủng đỉnh bước trong khi người Đức và người Nhật sẽ guồng rất nhanh dù họ không phải vội vã gì cả.

Nhiều người cho rằng vì nước Đức và nước Nhật đã là những nước công nghiệp phát triển từ lâu, họ cần nhanh để bắt kịp tốc độ của công nghiệp, của máy móc. Còn nước Việt, mới bắt đầu tiến vào xã hội công nghiệp, bản chất của đời sống nông nghiệp vẫn còn đậm vị, vì thế không cần quá nhanh, quá gấp gáp làm gì. 

Ngoài lí do là đời sống kinh tế gần gũi với sản xuất nông nghiệp thì tôi cho rằng bản chất người Việt cũng ưa chậm rãi. Họ thích sự khoan thai, rề rà. Đến nhà nhau chơi mà về sớm quá thì sẽ coi không đủ sự trân quý, hoặc cứ nhìn vào các bữa nhậu mà xem, đàn ông Việt thích sự la đà, lắm khi một bữa tiệc kéo dài từ mười giờ sáng đến mười giờ đêm vẫn chưa xong! Người Việt có một câu để biện minh cho sự la cà, dềnh dang này:

“Long đong cũng tới bến mà nghễu nghện cũng tới nơi”.

Thì thế cuộc sống mới nghèo, nhiều người lấy nguyên nhân ấy để giải thích cho cái sự chậm chạp của người Việt nhưng tôi thấy sự chậm này cũng chưa chắc là điều tệ. Người Nhật họ đi nhanh quá, làm nhanh, họ giầu có nhưng áp lực công việc cũng rất lớn, xứ sở mặt trời mọc đứng đầu về tỉ lệ tự sát vì căng thẳng công việc. Nhìn người Nhật đi đường, thao tác đôi khi trông họ giống như những con rô bốt được lập trình hơn là con người, lúc nào cũng gấp gáp, vội vã. Điều đó giải thích cho sự ức chế và mất cân bằng, còn người Việt, tự tử vì áp lực công việc là điều rất hiếm khi xảy ra. Lại tồn tại những con số thống kê, những nước chưa giàu hoặc không ưa vội vã thì chỉ số hạnh phúc lại cao hơn những nước phát triển, ví dụ như nước Nepal có nền kinh tế kém xa nước Nhật, nước Mỹ nhưng chỉ số hạnh phúc thì cao hơn nhiều.

Nói thế nhưng tôi đã thấy người Việt đã nhanh hơn nhiều rồi, không phải bây giờ mới bắt đầu mà từ khi văn minh thái tây bắt đầu xâm nhập và thổi vào những luồng gió mới, người Việt đã nhanh dần lên. Chính thi sĩ Xuân Diệu đã từng thốt ra rằng:

“Mau với chứ, vội vàng lên với chứ,

Em, em ơi, tình non đã già rồi.

Con chim hồng, trái tim nhỏ của tôi,

Mau với chứ! thời gian không đứng đợi...”.

Tất nhiên sự nhanh gấp của Xuân Diệu là dành cho tình yêu và tuổi trẻ. Tuổi trẻ cần nhanh và gấp bởi sự cuồng nhiệt và cái nhịp nhanh mạnh của nước ngoài đã tràn vào như một xu hướng không cưỡng lại được. Người ta sống nhanh, sống gấp vì sợ không đủ thời gian để làm nữa, cả đời cứ chậm rề rề thì làm được việc gì. Thế nhưng có lúc chậm lại là một giá trị, điều ấy không hề mâu thuẫn. Chậm khi ấy là nhâm nhi, là tận hưởng, là bình thản và an nhiên.

 Thế nhưng muốn sống chậm trước hết phải sống nhanh cái đã. Lúc nào cũng chậm thì hỏng và khi nào cũng nhanh sẽ tổn thọ. Đời người có lúc chậm lúc nhanh. Thông thường người ta sẽ nhanh nhẹn, gấp gáp lúc trẻ vì cả tinh thần và thể chất cần như thế. Một tình yêu sôi nổi không thể rề rà, chờ đợi quá lâu được, một việc cần làm ngay thì phải dục tốc cho kịp. Cái sự nhanh thời tuổi trẻ phù hợp với điều kiện lúc ấy, vừa chuẩn bị cho sự chậm rãi lúc già. Tuổi trẻ nhanh nhẹn thì tuổi già được phép chậm rãi.

Thế nhưng có những người cho đến già vẫn còn long đong vội vã, ấy có thể do tính cách của họ, hoặc không có sự chuẩn bị an thân cho mình. Nhìn thấy một người trẻ vội vã thì không mấy bận tâm nhưng thấy một người già quá vội vã, điều ấy hàm chứa những hoàn cảnh thương tâm.

Nghĩ đến sự chậm, tôi lại nhớ đến loài rùa. Rùa nổi tiếng chậm chạp nhưng là một trong những loài vật có tuổi thọ cao nhất. Những loài động vật cực nhanh như hổ báo có tuổi thọ kém xa loài rùa. Rùa chậm khiến người ta phát bực, phát cáu nhưng lại được chọn là con vật làm bệ đỡ, làm nền móng cho những loài vật đẹp đẽ hơn:

“Thương thay thân phận con rùa

Lên đình cõng hạc, xuống chùa đội bia”

Tôi cho rằng loài rùa chẳng cần cảm thấy tủi phận cho thân phận của mình,  thậm chí là vinh dự. Sao người ta không chọn một con vật nào khác làm bệ đỡ mà lại chọn rùa. Nên nhớ bệ đỡ, nền móng là điều kiện quan trọng nhất trong bất kì công trình và sự thăng tiến nào. Phải chăng con rùa là sự chắc chắn, bền vững và cả trường thọ nữa. Chính sự chậm của loài rùa cho chúng những ưu thế mà không phải loài nào cũng có được.

Tôi làm biên tập báo khá nhiều năm, mỗi khi cộng tác viên gửi bài đến, họ thường giục tôi đọc nhanh, làm nhanh. Nhanh khi ấy rất tốt và hứng thú vì ai cũng muốn biết đứa con tinh thần của mình được đón nhận ra sao, hay dở thế nào. Nhưng một biên tập viên đâu phải lúc nào cũng chỉ đọc bản thảo và trả lời thư, anh ta còn phải làm những việc khác nữa và điều quan trọng là cần sự tĩnh tâm để thẩm định cho chuẩn và nhận xét. Tôi thấy những người viết gấp gáp quá, giục dồn thường không đạt, vì sự nóng lòng thái quá thường là kết quả của sự thiếu chín chắn và kiên nhẫn, cũng chưa đủ một sự tự tin cần thiết. Cuộc sống đôi khi phải chậm một chút mới nhanh được, chậm là sự cẩn thận, chắc chắn và bền vững, là những gì mình làm ra không đáng bị vất đi, là sự công phu và tâm huyết làm ra những  sản phẩm có chất lượng.

Nhanh chậm cần hài hòa và tùy thời, tùy thế. Người ta nhìn vào hoàn cảnh để quyết định tốc độ của mình. Khi tất cả đều nhanh ta chậm có được không hoặc họ chậm mà ta nhanh có ổn chăng? Chọn sự đồng tốc với xung quanh hay đi theo một hướng khác. Tôi thỉnh thoảng lại nhìn thấy những người thảnh thơi rất sớm vì họ đã chuẩn bị cho sự chậm rãi của mình từ lâu rồi. Họ đã rất nhanh để có thể chậm, họ từng rất gấp để có thể thong dong.

Người Việt thì có vẻ đi ngược với những quy luật thông thường. Chúng ta từng quen sống chậm, bây giờ thì lại bắt đầu sống nhanh quá, muốn chậm lại phải rèn luyện, tu tập từ từ.

Điều ấy mâu thuẫn chăng?

Uông Triều

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).