Đọc tiểu thuyết "Và khép rồi lại mở" của Vũ Từ Trang, NXB Phụ nữ, 2019

Số phận một làng quê trong cơn biến động của lịch sử

Thông thường, phần mở đầu và kết thúc một tác phẩm sẽ cho độc giả một cảm nhận về không khí truyện. "Và khép rồi lại mở" mở đầu và kết thúc đều rất dữ dội, gây cho người đọc những "cú sốc thẩm mỹ"...

1. "Và khép rồi lại mở" là cuốn tiểu thuyết mới nhất của nhà thơ Vũ Từ Trang, in và nộp lưu chiểu quý 1 năm 2020, khổ 14.5 x 20.5 cm, dày 371 trang, gồm 21 chương.

Tên gọi của cuốn sách có nhiều cách lý giải:

Ở chương 2, nhân vật Thịnh khi sắp rời bỏ làng ra đi để vào Nam, có nói với ông chú của mình: "Cháu rất khổ tâm khi phải khăn gói rời làng. Cái cổng làng khép rồi lại mở. Bao đoạn trường đời cháu. Bao kiếp người làng ta, vinh và nhục đều đi qua cái cổng làng". Ở phần "Vĩ thanh", câu cuối của tác phẩm nhân vật "tôi" nói: "Tôi  nhớ lời bố tôi từng căn dặn: Hãy cố gắng và tin con ạ, cuộc sống khép rồi lại mở!".

Từ cánh cổng làng đến cuộc sống "khép rồi lại mở", những trang viết của Vũ Từ Trang đưa độc giả đến với số phận "vinh và nhục" của bao kiếp người.

Không gian của "Và khép rồi lại mở" chủ yếu là một làng quê xứ Kinh Bắc. Dù tác giả có "đưa" nhân vật đến nhiều địa danh khác nhau, suốt từ Bắc vào Nam thì cái làng Trung vẫn là bối cảnh chính để các nhân vật hoạt động, là chốn đi về của họ.

Thời gian của truyện kéo dài ngót một thế kỷ. Từ những năm trước Cách mạng Tháng Tám, thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Cải cách ruộng đất (1953 - 1956), đến giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975 và những biến thiên sau đó.

Về nhân vật, tiểu thuyết "Và khép rồi lại mở" không có nhân vật chính. Ngoài nhân vật "tôi" là người kể chuyện và dẫn chuyện thì nhân vật chính là cái làng Trung với hàng trăm khuôn mặt, hàng trăm số phận khác nhau. Cuốn tiểu thuyết này là "Sử thi của đời tư". Nó trần thuật số phận của rất nhiều cá nhân, trong quá trình hình thành và phát triển. Qua đó, tác giả đã phản ánh cả một giai đoạn dài của lịch sử đất nước.

Nếu như, trong thế giới giữa người với người "sinh tồn" và "mưu cầu hạnh phúc" là quy luật khắc nghiệt nhất của tạo hóa mà con người phải đương đầu, thì cuốn tiểu thuyết đã kể về một hành trình dài của nhiều thế hệ ở làng Trung tìm kiếm mưu sinh và giữ gìn hạnh phúc cho bản thân và gia đình.

2. Thông thường, phần mở đầu và kết thúc một tác phẩm sẽ cho độc giả một cảm nhận về không khí truyện. "Và khép rồi lại mở" mở đầu và kết thúc đều rất dữ dội, gây cho người đọc những "cú sốc thẩm mỹ".

Đây là những câu đầu tiên ở chương 1: "Cái tin ông Thỏa bị đập chết loang nhanh khắp làng. Người đập ông Thỏa chết, không phải ai xa lạ, lại chính là thằng con trai của ông ấy. Hắn dùng cái cuốc hắn vẫn thường đi cuốc ruộng, xới khoai, xới đỗ…".

Bìa cuốn tiểu thuyết mới của nhà thơ Vũ Từ Trang.
Bìa cuốn tiểu thuyết mới của nhà thơ Vũ Từ Trang.

Và đây là đoạn văn ở phần "Vĩ thanh": "Tôi về đến đầu ngõ, Độ hộc tốc chạy tới kéo tay tôi - Đừng về nhà nữa, về nhà tớ đi. Con cái nhà Thỏa sát nhà cậu vừa giết nhau. Giết nhau tranh món hàng, chết vì tiền. Thằng anh bị đâm thủng ngực, chết ngay đầu đình, thằng em đang đưa đi cấp cứu. Thằng út trốn biệt rồi…."

Nhà văn Séc Franz Kapka đã nói: "Bản chất của sự sinh tồn là nỗi bất an". Những thảm kịch trên báo hiệu một không khí bất an với những xung đột gay gắt ở cái làng quê vốn tưởng là yên bình này.

3. Làng Trung, bối cảnh chính của truyện, một làng cổ xưa, điển hình của xứ Kinh Bắc. Làng giàu có, với phong cảnh hữu tình, với những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Làng có hai nghề cổ truyền là buôn bán, sửa chữa đồ đồng và làm ruộng.

Phong cảnh làng thật đẹp với những vườn khế ngọt xanh mướt,  những đầm sen thơm mát, những ao chuôm, những khu rừng tự nhiên, những cây cổ thụ đến hàng nghìn năm tuổi. Đất đai màu mỡ, nguồn nước ngọt trong lành, nơi đây đúng là mảnh "đất lành".

Người làng Trung tự hào vì làng có đình chùa, đền, miếu, cổng làng… vào loại đẹp nhất vùng. Đặc biệt, những trang viết về cổng làng của tác giả là những trang đẹp, giàu chất thơ. Sau cánh cổng ấy là không gian im lìm với những con ngõ nhỏ lát gạch nghiêng bình dị, những căn nhà gạch không trát vữa đã rêu phong phủ kín bóng thời gian. Thôn dã yên bình với những nét đẹp xưa cũ.

 Rồi hội hè đình đám. Rồi những ngày sau năm 1954, miền Bắc có những ngày bình yên ngắn ngủi trước khi cả nước bước vào thời kỳ đánh Mỹ. Đó là những năm tháng thần tiên của thế hệ "tôi: với ánh trăng huyền diệu, những buổi sinh hoạt đội thiếu niên, những điệu nhảy, múa tập thể. Sau này, những cô, cậu bé của một thời xa xưa ấy vẫn nhớ về ngày xưa như một thiên đường đã mất, như một ký ức đẹp của đời người. 

4. Nhưng đằng sau cái vẻ đẹp thanh bình, êm ả ấy, làng Trung có những bất ngờ, những "ghê gớm", những quyết liệt như tất cả những làng quê khác.

Đất lề quê thói, người làng Trung "đẻ" ra bao luật tục và không ít trong số đó đã làm khổ, hành hạ, đầy đọa con người. Những quan niệm cổ hủ, lạc hậu về chuyện sinh con một bề, trọng nam khinh nữ đã gây ra bao tấn bi kịch. Ở làng này "những ông anh nào không con trai ở nhà không sao, chứ ra bàn dân hay đến việc họ tự động phải bé mồm lại". Cho nên phải đẻ bằng được con trai!

Ông Tố vợ sinh nở lần thứ 11 vẫn con gái. Phẫn uất, ông mang dao chém đứt đôi chiếc cầy làm bằng gỗ nghiến gắn bó với ông mấy chục năm trời. Rồi ông hạ chiếc ỷ thờ, đồ gia bảo của bố mẹ để lại mà ông quý trọng vô cùng, chém tan nát, "ông ôm mặt khóc hu hu", "đời coi như đã hết" "ngôi nhà ba gian hai trái ngôi nhà của sự chắt bóp cần lao, cả một đời người bỗng trở nên vô nghĩa". Ông Đậu  có cậu con trai duy nhất, quý như cục vàng. Thằng con chết đuối, ông suy sụp tuyệt vọng, rồi tự thiêu chết cháy cùng ngôi nhà bếp ba gian.  Nhà sinh con một bề ở cái làng Trung này đẻ ra bao chuyện gở.

Cũng vì những hủ tục tàn nhẫn của làng mà những đứa con trai không giá thú của lão Ao không được mang họ bố. Phẫn uất, lão bỏ làng ra đi. Viễn cảnh đời lão thật buồn. Lão "sẽ chết đầu đường xó chợ", "như một chiếc lá rụng", "như một quả chín héo tự đứt cuống nát bét trên mặt đất", "như một con trâu, con chó, già nua và cô đơn".

5. Dân làng đã vậy, những người bước chân ra khỏi cái cổng làng, ra đi mong tìm kiếm một cuộc sống khá hơn, có ý nghĩa hơn nhưng không mấy ai thoát khỏi trầm luân. Số phận của họ ngụp lặn trong bao biến động của thời cuộc

Trong dòng xoáy khốc liệt của ba cuộc chiến tranh, nghĩa trang làng có đến 83 ngôi mộ liệt sỹ. Đứng trước những hàng mộ, Thụ - một cựu chiến binh đã vái lạy, khóc hu hu và "như thấy súng đạn nổ ùng oàng quanh thân thể Thụ". Đấy là "nỗi buồn chiến tranh" trong lòng người sống.

Có một số người cũng rời cổng làng xa quê vào Nam năm 1954 như ông Thịnh, ông Trường với mong mỏi làm ăn thuận lợi hơn. Hơn hai chục năm lo buôn bán làm giàu. Sau này người mang vợ con di tản ra nước ngoài, đánh cược cuộc đời với biển khơi mênh mông trập trùng như ông Trường; người trở về thăm quê thì mang mặc cảm có lỗi với vợ con như ông Thịnh.

Và còn biết bao người khác với cuộc đời thăng trầm. Một thế hệ trẻ lớn lên trong ánh trăng vàng của tuổi thơ mỗi người một số phận. Xem ra cả thế hệ ấy đều lận đận, bi kịch. Thì ra trong cái vòm trời này, con người muốn vươn lên sống hướng thiện, sống có ý nghĩa có dễ dàng đâu. Con người thời buổi nào, dù bình yên hay tao loạn, dù may mắn hay không, dù thành hay bại, dù sang hay hèn, đều nổi chìm trong ngàn vạn con sóng ngầm của số phận. 

Những nhân vật, những số phận cứ tiếp nối trong sách…Nhưng ở những chương cuối đa số các nhân vật chính đã trở lại và khóa dần từng số phận. Truyện như kể nhưng xen kẽ những triết lý nhân sinh của người viết, theo hướng chiêm nghiệm, phân tích, cắt nghĩa thực tại. Giọng điệu suy tư triết lý này của tác giả được cất lên từ một năng lực phân tích đời sống một cách sắc sảo, khả năng đối thoại, phản biện đời sống.

6. Cuộc đời này thật buồn. Nhưng cuộc đời không đến nỗi đáng buồn như ta tưởng. Ở phần "Vĩ thanh", "tôi" ở trong ngôi nhà tuổi thơ chìm trong ánh trăng. Rồi "Một hương vị của làng, rất xưa, rất quen thuộc, vẫn còn đây, bỗng trỗi dậy (…) Tôi chợt thấy ánh trăng dường sáng hơn (…) tôi tin, vòng quay nhân gian cứ tuần tự theo chu kỳ biến hóa diệt sinh của nó. Tôi nhớ lời bố tôi từng căn dặn: Hãy cố gắng và tin con ạ. Cuộc sống khép rồi lại mở" (tr 369). Câu nói của người cha thật minh triết, minh triết như câu ca dao: "Đừng than phận khó ai ơi / Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây". Điều cần thiết là con người phải biết tin yêu cuộc sống, biết vươn lên.    

Niềm tin ấy người đọc còn cảm nhận được qua giọng kể của tác giả - một giọng kể trầm tĩnh và bình thản. Với sự điềm tĩnh, từng trải và vững chãi, người viết đã gieo cấy trong tâm tư người đọc niềm tin yêu vào cuộc sống. Bởi quy luật của cuộc sống "khép rồi lại mở". Đó là thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm qua cuốn tiểu thuyết tâm huyết của đời mình.

Hải Dương, tháng Tư năm 2020

Nguyễn Thị Lan

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).