Sao chổi chiếu mệnh

Những ai không may gặp vận hạn, liền than thở “Sao Chổi chiếu mệnh...”. Nghĩa là coi sao Chổi là sao xấu chuyên gieo tai họa. Không lý giải điều ấy có thật không bài viết chỉ xin đi tìm các lớp mã bao bọc quanh cái mã “chổi” quen mà cũng lạ này.

Ở phương Tây, trong ngày lễ Halloween (tiếp biến sang ta mấy năm nay), trong các truyện cổ tích nói về nhân vật ác không thể thiếu hình tượng phù thủy cưỡi chổi, đầu đội chiếc mũ nhọn. 

Trong bộ phim “Harry Potter” nổi tiếng mới đây thì hình ảnh phù thủy cưỡi chổi là cảnh quay công phu thú vị, tạo nhiều hiệu ứng về cảm giác. Chiếc chổi thì có tội gì đâu, nhưng vì là phương tiện cho phù thủy nên bị ghét oan. Điều này có nguyên cớ của nó, không ở cái chổi thật mà lại ở trên... giời. Trên trời có chòm sao giống hình cái chổi nên người trần gian gọi là sao Chổi!

Phù thủy trong tâm thức phương Tây!
Phù thủy trong tâm thức phương Tây!

Truyền thuyết cổ xứ Babylon có tên là “Sử thi Gilgamesh” (ra đời khoảng năm 2.600 TCN) kể về bầu trời đang yên bình bỗng sao Chổi xuất hiện gây nên những đám cháy khủng khiếp, khí quyển đầy lưu huỳnh. Rồi những trận mưa gây lụt lội kinh hoàng. Người La Mã cho rằng ngày sao Chổi xuất hiện là ngày Cesar Đại đế bị ám sát (năm 44 TCN). 

Đến thế kỷ V một giáo sĩ Do Thái Moses Ben Nachman coi sao Chổi là nguyên nhân gây ra nạn Đại hồng thủy. Ở thế kỷ XII, Giáo hoàng Calixte II cho rằng sao Chổi (Halley) là công cụ của quỷ dữ, do vậy phải làm phép tẩy trừ. Chưa đủ, tại nước Anh bảo thủ, giữa thế kỷ XIV sao chổi Halley bị các giáo sĩ  kết tội đã gieo rắc dịch hạch đen... 

Đến tận ngày nay phương Tây vẫn bị ám ảnh bởi sao Chổi đến mức đạo diễn Steven Spielberg làm bộ phim giả tưởng (của Hollywood- 1998) có tên “Deep Impact” miêu tả nhiệm vụ hai tàu không gian Mỹ chở bom hạt nhân để phá hủy một sao Chổi đang tiếp cận trái đất. Nhân loại hú hồn vì khỏi một cơn “càn quét”! 

Bộ phim ăn khách, doanh thu cao là nhờ những cảnh quay hiện đại nhưng cái chính là “đánh” đúng vào một “vô thức cộng đồng” quan niệm sao Chổi mang cái xấu đến. Nó sẽ “quét” thành quả của con người trong quỹ đạo “quét” của nó. “Chiêu” này được cho vào sách giáo khoa của môn học mới có tên “Kinh tế học văn hóa” chuyên nghiên cứu văn hóa để làm kinh tế!

Ở phương Đông, một số dân tộc Bắc Á gọi sao Chổi là “yêu nữ” (vì gần với phụ nữ) mang đến sự tàn phá, chết chóc.

Tại sao sao Chổi lại bị ghét như vậy? Lẽ đơn giản là vì nó giống cái chổi, mà cái chổi thì chỉ để “quét” cho sạch. Có thể một vài lần nào đó trong lịch sử sự xuất hiện của sao này ngẫu nhiên trùng với một đại họa nào đó dưới trần. Thế là người ta liên tưởng ngay đến đặc trưng “quét” của chổi mà gán ghép, suy diễn.

Nhưng vấn đề còn nằm trong vô thức văn hóa rất xa xưa, có từ tín ngưỡng tôn sùng tự nhiên của người phương Tây. Thoạt kỳ thủy cái chổi rất được tôn sùng vì nó được dùng để làm sạch đền thờ thiêng liêng nên được để nơi trang trọng, dễ thấy trong đền. Cái chổi dựng ngược mang hình cái cây (một biểu tượng của cây vũ trụ?!) nên được người nguyên thủy dùng trong việc tế lễ. Vào các ngày hội người ta lấy chổi thiêng trong đền dựng ngược rồi nhảy múa chung quanh. Tự nhiên cái chổi trở thành vật trung tâm, kết nối mọi người!

Kinh Tân Ước xuất hiện vào thế kỷ I SCN, trong đó đã nói đến cái chổi chủ yếu được người phụ nữ dùng để quét dọn nhà cửa, thu vén, chăm sóc gia đình. Trong từ vựng Latinh cổ cái chổi (broom) đồng nghĩa với một loài thực vật sống thành bụi (cây). Trong tiếng Anh cổ từ “besom” chỉ cái chổi. 

Cả hai từ này, theo các nhà ngôn ngữ học đều gắn liền, mang tính biểu tượng cho quyền lực của người phụ nữ. Mà phù thủy thường là một bà già khó tính nên phải có cái chổi đi kèm để biểu trưng cho quyền lực mang tính tiêu cực (gắn với quan niệm về cái xấu, không hay của sao Chổi).

Tại sao phù thủy lại “cưỡi” chổi? Vì gắn với hình tượng sao Chổi trên trời luôn di chuyển. Sao Chổi di chuyển (bay) để gây tai họa thì phù thủy phải cưỡi chổi “bay” đi gây cái ác, cái không hay!

Truyền thuyết Trung Hoa kể (trong tập “Sưu thần ký”) một người lái buôn tên là Âu Minh, một lần đi thuyền qua hồ Thanh Thảo được thủy thần tặng một người hầu tên Như Nguyệt. Từ đó Âu Minh ăn nên làm ra, trở thành giàu có. 

Một ngày mồng một Tết vì làm vỡ bình quý nên Như Nguyệt bị Âu Minh đánh. Cô liền chui vào đống rác góc nhà. Vợ Âu Minh vô tình quét nhà hót luôn cả đống rác đổ đi. Nhà Âu Minh nghèo hẳn. Thế là thành tín ngưỡng thờ Thần Tài (Như Nguyệt) ở góc nhà, dưới đất và kiêng quét nhà vào những ngày đầu năm mới.

Cổ tích Việt Nam kể ngày xưa ở trên trời có một người đàn bà nấu ăn rất khéo chuyên việc cơm nước cho Ngọc Hoàng. Nhưng bà lại có tính hay ăn vụng. Bà lại có nhân tình là một lão chăn ngựa. Nhiều lần bà lấy trộm rượu thịt, thậm chí có lần còn đưa tình nhân vào nhà bếp chè chén. 

Một lần Ngọc Hoàng mở tiệc đãi quần thần, quen mui, ông lão lẻn vào bốc trộm... Việc bại lộ, người đàn bà bị đày xuống trần gian và bị biến thành cái chổi. Câu đố có câu: “Cả nhà có bà la liếm” có lẽ gắn liền với cổ tích này. Dân gian gọi chổi là “bà” tức có ý kính trọng nhưng mang phận “la liếm” tội nghiệp! Rõ là có cái tình thương rất Việt!

Vẫn chưa hết. Ngọc Hoàng thay người nấu bếp khác nhưng thức ăn không ngon bằng người cũ nấu. Lại thấy người phạm tội vất vả quanh năm suốt tháng và có ý ăn năn hối lỗi Ngọc Hoàng bèn lệnh cho trần gian để chổi nghỉ ba ngày Tết!

Trong văn viết thì ở “Thánh Tông di thảo” (thế kỷ XV) có truyện “Ma chổi”, nhân vật chính cũng là nữ. Truyện kể anh học trò trọ học ở một làng theo lời đồn là có ma. Anh chưa biết thế nào là ma nên muốn gặp. Hằng ngày anh phải đi qua cái miếu nhỏ, trong miếu có bàn thờ và chiếc chổi. 

Một hôm đang học bài anh bỗng nhìn thấy một cô gái trẻ ngoài cửa sổ. Anh chàng xao xuyến. Cô gái tinh nghịch ném vào phòng một bài thơ. Anh mời khách vào nhà. Duyên lửa đương nồng nên bén nhau là dễ hiểu. 

Họ yêu nhau mê mệt nhưng dù có đang nồng nàn thì cô gái cứ đến cữ gà gáy là từ biệt với lý do sợ mọi người biết chuyện, dù người tình cố giữ. Từ đấy anh ta xao nhãng học hành, người thì xanh xao gầy gộc, tinh thần bạc nhược, yếu đuối. Thầy học điều tra biết chuyện. Cứu trò, thầy lấy một chiếc khăn đỏ, đốt hương, thổi bùa vào, rồi nói cứ thế, cứ thế...

Như mọi lần, khi cô gái chuẩn bị ra về, anh ta đem chiếc khăn ra tặng. Cô gái hoảng hốt. Giả vờ giận dỗi rồi ngon ngọt tình tứ mà dỗ dành cuối cùng người tình cũng cảm động mà nhận... Sáng hôm sau thầy trò cùng đến miếu cổ. Họ sững sờ thấy cái chổi được chiếc khăn đỏ quấn quanh. Cái chổi lập tức bị đốt. Đang đốt người ta nghe thấy tiếng người con gái kêu gào rồi khóc thảm thiết...

Từ đó không còn ai nói gặp ma nữa!

Câu chuyện cảnh tỉnh con người ta phải cảnh giác với loài yêu ma có thể biến thành thứ thân quen, gần gũi để lừa hại. Nhất là với tuổi học trò thì chỉ biết nên học, nếu mà lăng nhăng yêu đương sẽ gặp ma! Các bậc phụ huynh thời ấy chắc phải rất cảm ơn tác giả, vì đọc câu chuyện này bao chàng quý tử “nhất quỷ nhì ma” cũng phải tu chí, đang đi trọ học mà thấy con gái đẹp thì cũng phải nhắm mắt lại mà nhớ đến chữ nghĩa...

Như vậy, trong tín ngưỡng hay văn chương từ Đông sang Tây thì chổi cũng gần gũi và luôn là biểu tượng cho giới nữ. Trong ca dao Việt nó còn mang tính biểu trưng cho thân phận thấp hèn, đau khổ: “Thân em như chổi đầu hè/ Phòng khi mưa gió đi về chùi chân/ Chùi rồi lại vứt ra sân/ Gọi người hàng xóm có chân thì chùi”. 

Khổ thế, phận người phụ nữ trong xã hội cũ như cái chổi vậy. Nhưng lại có câu ca dao khác “phản biện” lại, chắc là đấu tranh cho sự bình quyền của người phụ nữ: “Chổi cùn cắp nách khăng khăng/ Hễ ai hỏi đến, thì văng nghìn vàng”. Rõ ràng là nâng giá trị người nữ cao lên rất nhiều.

Cái chổi ở thời hiện đại thì chỉ là... cái chổi. Hầu như nó không trở thành một nhân vật nghệ thuật. Bài hát “Bé quét nhà” của nhạc sỹ Hà Đức Hậu thật vui tươi: “Một sợi rơm vàng là hai sợi vàng rơm/ Bà bện chổi to, bà làm chổi nhỏ/ Chổi to chổi to bà quét sân kho/ Ấy còn chổi nhỏ bà để dành bé chăm lo quét nhà...” thời nay người lớn cũng ít cho trẻ em hát. Vì nếu chúng hỏi “sân kho” ở đâu thì khó trả lời, vì hình tượng ấy chỉ có ở thời hợp tác xã! Tố Hữu có bài thơ rất hay là “Tiếng chổi tre” nhưng chỉ là “tiếng” chứ không phải chổi!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).