Sáng tạo thứ hai

Trong lao động nghệ thuật, người sáng tác nên tác phẩm là sáng tạo thứ nhất (tác giả). Người chuyển tải tác phẩm đến công chúng thưởng thức là sáng tạo thứ hai (các nghệ sĩ biểu diễn). Người ta còn nói đến vai trò không kém phần quan trọng là khâu sáng tạo thứ ba. Đó là người thưởng thức tác phẩm.

Hai khâu sáng tạo thứ nhất và thứ hai đã thành công mà người tiếp nhận tác phẩm không biết thưởng thức thì kể như cũng vô nghĩa vì sẽ rơi vào tình trạng "đàn gẩy tai trâu".

10-2.jpg -0
NSND Dương Ngọc Đức và NSND Lê Dung - những người sáng tạo lần thứ hai luôn khiến các tác giả quý trọng.

Khâu sáng tạo thứ 2 không có đối với thơ, văn, hội họa, nhiếp ảnh mà chỉ có đối với âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, múa, xiếc vì người thưởng thức trực tiếp cảm nhận tác phẩm, không cần qua khâu trung gian nào. Còn nghe ngâm thơ hay nghe đọc truyện lại là trường hợp khác. Bản thân tôi là nghệ sĩ thể hiện thơ và truyện, từng ngâm và đọc rất nhiều bài thơ, truyện trên Đài Tiếng nói Việt Nam và Truyền hình Việt Nam nhưng có lần đã không ngần ngại để phát biểu: Không nên lạm dụng hình thức thưởng thức thơ, văn qua ngâm hoặc đọc vì như vậy người nghe sẽ ít nhiều bị sai lạc trong việc cảm nhận tác phẩm qua giọng thể hiện của nghệ sĩ. Có thể tác phẩm dở nhưng giọng thể hiện của nghệ sĩ hay thì công chúng sẽ bị nhầm lẫn trong việc đánh giá khách quan tác phẩm và ngược lại. Chỉ những công chúng có trình độ với "gu" thẩm mỹ cao mới phân biệt được giá trị tự thân của tác phẩm thơ, văn độc lập với việc diễn xướng của nghệ sĩ thể hiện.

Giới sáng tác dễ dàng thống nhất để thừa nhận: Khâu sáng tạo thứ hai là rất quan trọng, có khi chắp cánh, nâng giá trị tác phẩm lên rất nhiều hoặc ngược lại, "giết chết" tác phẩm. Rõ nhất là trong lĩnh vực âm nhạc. Nhạc sĩ sáng tác một bài hát, bản nhạc, ghi ra giấy chưa thể coi là đã hoàn thành tác phẩm. Khi ấy, mới chỉ là những "sợi giá đỗ" ngoằn ngoèo phơi trên những khuông nhạc. Bởi người thưởng thức chưa thể hình dung ra tác phẩm, nhất là đối với những tác phẩm khí nhạc (nhạc đàn, không lời). Ngay cả khi người thưởng thức giỏi môn xướng âm (tức nhìn bản nhạc có thể xướng ngay được âm thanh chính xác) như nhiều nhạc sĩ chuyên nghiệp thì nếu không có người hát hoặc diễn tấu vẫn chưa thể hình dung hết được tác phẩm.

Vậy nên trong âm nhạc, vai trò của người sáng tạo lần thứ hai (ca sĩ, cầm sĩ) là cực kỳ quan trọng, theo tôi, chiếm đến 30% sự thành, bại của tác phẩm. Thơ và nhạc là hai loại hình văn nghệ nghiêng về trừu tượng hơn là cụ thể, hư hơn thực, nhất là âm nhạc. Một bài thơ, bản nhạc có thể khiến người ta cảm nhận khác nhau tùy thuộc vào tâm trạng, trình độ, năng lực cảm thụ thẩm mỹ của họ. Lúc này, nghệ sĩ biểu diễn - ca sĩ hay người nhạc công - bằng tài năng của mình sẽ định vị cụ thể cho công chúng thưởng thức tác phẩm.

Chính vì sự trừu tượng như vừa nói mà tác phẩm đã khiến người thưởng thức cảm nhận được khác nhau qua sự thể hiện của khâu thứ hai - nghệ sĩ biểu diễn. Nhiều bài hát ra đời ở miền Nam trước năm 1975 về phương diện tác phẩm không có gì là tiêu cực, thậm chí còn đáng trân trọng bởi chỉ xoay quanh chủ yếu là hai đề tài: Tình yêu lứa đôi và quê hương, đất nước. Lại cũng thể hiện khát vọng thiết tha về một tình yêu cao cả, không vụ lợi bởi vật chất và mọi động cơ tầm thường khác. Nhưng các ca sĩ Sài Gòn (cũ) đã đem đến cho người nghe những cảm giác tiêu cực: Buồn nản, cô đơn, bi quan, yếm thế mà không phải là ngược lại, tích cực của một tình yêu trong sáng, cao đẹp. Đó là do cách hát của họ cộng với phần hòa âm phối khí, cách diễn tấu của phần nhạc đệm. Họ có cách hát ẻo lả, mềm yếu, nhấn vào tâm trạng cô đơn với một tiết tấu chậm chạp hơn là thể hiện trung thực ý tình nhạc sĩ muốn biểu hiện.

Có thể dẫn chứng một vài trường hợp khá tiêu biểu cho điều này. Bài "Nhớ mùa hoa tím" của Mạnh Phát có những lời lẽ biểu hiện tình yêu thật trong sáng: "Nhớ khi nào qua mấy mùa hoa/ Mơ bóng dáng năm xưa xa mờ/ Chiều dần chìm trong tia nắng phai/ Gửi về nơi chân mây cuối trời/ Bao buồn vui giữa mùa hoa tím/ Phút ban đầu tuy mới gặp nhau/ Nhưng vẫn nhớ sắc hoa năm nào/ Dù thời gian trôi đi nhớ thương/ Dù đời hoa kia rơi úa tàn/ Nhưng màu tím không tàn trong tôi...".

Ta thấy rõ ca từ biểu hiện một tình yêu thật đẹp, đề cao sự thủy chung, son sắt. Tốc độ của bài này tác giả quy định cũng vừa phải, không chậm. Nhưng hầu hết các ca sĩ cũ ở Sài Gòn đều hát rất dề dà, lại cố lái giọng hát theo hướng nỉ non, sướt mướt nên đã gây cho người nghe cảm giác thê lương, não nề, bi lụy không đúng với tinh thần của tác phẩm được thể hiện rõ trong giai điệu và lời ca. Nếu hát bài này theo lối hát giản dị, trong sáng thì sẽ đem đến cho người nghe cảm giác hoàn toàn khác: Lành mạnh, trong sáng, lạc quan, tha thiết, ngọt ngào.

Một bài hát nổi tiếng nhiều người ưa thích là "Làng tôi" của Chung Quân cũng đem lại nhiều hiệu ứng khác nhau nơi công chúng: "Làng tôi có cây đa cao ngất tầng xanh/ có sông sâu lờ lững vờn quanh êm xuôi về Nam /Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau/ Lũy tre xanh bên mấy hàng cau...". Bài hát ra đời năm 1952, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tác giả thể hiện tình yêu, nỗi nhớ dành cho quê hương mình khi phải rời xa và mong ngày trở về, gặp lại. Một tình cảm trong sáng, tha thiết như vậy mà bị nhiều người hát ủy mị hóa, trở nên tầm thường như nỗi buồn của kẻ thất tình vậy.

Hai bài hát trên cùng với nhiều bài trong sáng, lành mạnh, có tình cảm đẹp khác đã một thời bị xếp vào loại "nhạc vàng" chính vì lối thể hiện của ca sĩ - khâu sáng tạo thứ hai - vô cùng tệ hại, gây oan cho tác giả trong khi họ đã viết nên tác phẩm với tất cả những cảm xúc, tình cảm cao đẹp nhất.

Có hai bài hát nổi tiếng của hai nhạc sĩ lớn Văn Cao và Đỗ Nhuận là "Sông Lô" (Văn Cao) và "Du kích sông Thao" (Đỗ Nhuận) cũng bị một dàn nhạc và ca sĩ ở hải ngoại trình diễn sai lạc hẳn nội dung tư tưởng, tình cảm, làm biến dạng, méo mó thảm hại tác phẩm vốn dĩ rất có giá trị tư tưởng và thẩm mỹ, có thể coi là những bài nằm trong số những tác phẩm hay nhất trong nền âm nhạc cách mạng Việt Nam. Tôi không thể hiểu từ ý nghĩ nào mà một bài hừng hực khí thế, rất hào sảng, đậm chất tráng ca như "Sông Lô" lại bị một nữ ca sĩ hải ngoại hát rất chậm chạp, uốn éo. Bài hát vốn đã dài (hát hết 10 phút với tốc độ như tác giả quy định), ca sĩ nọ hát tới 20 phút mới hết bài, nghe quá sốt ruột, không còn một chút không khí chiến thắng oanh liệt trên sông Lô của quân dân ta năm xưa.

Bài "Du kích sông Thao" cũng vậy. Tuy bài này không hào sảng, dũng mãnh như "Sông Lô" nhưng cũng không thể được hát với tình cảm ủy mị, yếu đuối như những bản não tình. Giai điệu đẹp biểu hiện mọi sắc thái vui tươi, giản dị, lạc quan, ngọt ngào, thắm tươi của những người du kích vừa sản xuất vừa chiến đấu ở đôi bờ sông Thao trong kháng chiến chống Pháp đã không được người hát tô đậm mà ngược lại là sự yếu đuối, ủy mị thật nhạt nhẽo.

Trong âm nhạc, người thể hiện (hát hoặc đánh đàn) chỉ cần xử lý tốc độ nhanh thêm hoặc chậm bớt một chút, thể hiện sai sắc thái (nuan) tác giả quy định là đã đem đến cho người thưởng thức cảm nhận khác hẳn, có khi đi quá xa ý định của tác giả. Vậy nên những nhạc sĩ khó tính trong lao động nghệ thuật luôn theo sát đứa con tinh thần của mình khi chúng mới sinh nở, lần đầu tiên trao cho một nghệ sĩ nào đó thể hiện. Họ không thể phó mặc để diễn viên tuỳ ý xử lý tác phẩm dẫu có tài đến mấy. Còn khi tác phẩm đã trở nên nổi tiếng, trôi nổi ở khắp nơi thì đương nhiên phải chấp nhận cho người thể hiện tự do trình diễn theo ý của họ. Lúc này tác phẩm đã nằm ngoài tầm kiểm soát của tác giả.

Sân khấu và điện ảnh lại có hai khâu sáng tạo nữa sau khâu thứ nhất là tác giả kịch bản. Đó là đạo diễn và diễn viên. Khi kịch bản văn học hình thành, mới chỉ là những trang giấy vô hồn. Tuy nhiên, khác với âm nhạc, kịch bản sẽ khiến người đọc hình dung được một phần hiệu quả cuối cùng của vở diễn, bộ phim. Nhưng nếu đạo diễn xoàng, đội ngũ diễn viên kém tài, không khai thác, sáng tạo được gì thêm từ kịch bản thì có khi làm hỏng hiệu quả cuối cùng. Vậy nên đạo diễn và diễn viên trong sân khấu và điện ảnh tuy là yếu tố sáng tạo thứ hai nhưng có vai trò quyết định đến hiệu quả cuối cùng của tác phẩm.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).