“Sa hành đoản ca” tiếng kêu bi phẫn của bậc trượng phu thất thế

Cao Bá Quát (1808-1855) hiệu Chu Thần, quê làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, Kinh Bắc xưa, Hà Nội ngày nay. Ông nổi tiếng học giỏi, thơ hay vào bậc nhất đương thời. Người đời tôn vinh Cao Bá Quát là Thánh Thơ (Thi thánh).

Tuy nhiên, thầy Cao không gặp thời. Ông nhanh chóng mắc vào lưới đời. Hai lần làm quan ở bộ Lễ. Hai lần ở viện Hàn Lâm, nhưng cuộc đời làm quan của Cao Chu Thần cộng lại cũng chỉ được mấy năm, hoàn toàn bất đắc chí. Xã hội đương thời không chứa nổi tâm hồn và khí phách họ Cao. Thơ Cao Bá Quát có cái cốt cách phóng túng, khoáng đạt, kỳ vĩ của thơ Lý Bạch; nhưng lại có cả màu sắc hiện thực gần gũi, rất giàu nhân bản và nhân văn của thơ Đỗ Phủ, hai nhà thơ lớn nhất đời Đường.

Cao Bá Quát đứng về phía nhân dân, chống lại triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã đến lúc suy tàn. Ông lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương ở Sơn Tây. Theo sử nhà Nguyễn thì thầy Cao bị bắn chết ở trận tiền. Nhưng theo một số tài liệu mới thì Cao Bá Quát không chết trong chiến đấu. Khởi nghĩa thất bại, Cao Bá Quát trốn sang Trung Quốc dạy học và viết chữ thuê, sống đến tuổi thất thập. Thơ Cao Bá Quát hiện sưu tầm được khoảng hơn 1.500 bài. "SA HÀNH ĐOẢN CA" là một trong nhiều bài thơ hay của Thánh thơ Cao Bá Quát.

“Sa hành đoản ca” tiếng kêu bi phẫn của bậc trượng phu thất thế -0
Một cảnh ở trường thi ngày xưa.

Phiêm âm:

SA HÀNH  ĐOẢN CA

Trường sa phục trường sa
Nhất bộ nhất hồi khước
Nhật nhập hành vị dĩ
Khách tử lệ giao lạc
Quân bất học tiên gia mỹ thụy ông
Đăng sơn thiệp thủy oán hà cùng
Cổ lai danh lợi nhân
Bôn tẩu lợi đồ trung
Phong tiền tửu điếm hữu mỹ tửu
Tỉnh giả thường thiểu túy giả đồng
Trường sa trường sa nại cừ hà
Thản lộ mang mang úy lộ đa
Thính ngã nhất xướng cùng đồ ca
Bắc sơn chỉ Bắc sơn vạn điệp
Nam sơn chỉ Nam ba vạn cấp
Quân hồ vi hồ sa thượng lập?

Dịch nghĩa:

BÀI HÁT NGẮN "ĐI TRÊN BÃI CÁT"

Bãi cát dài, lại bãi cát dài
Đi một bước như lùi một bước
Mặt trời đã lặn mà vẫn còn đi
Khách (trên đường) nước mắt lã chã rơi

Anh không học được ông tiên có phép ngủ kỹ
Cứ trèo non, lội nước mãi, bao giờ cho hết ta oán?
Xưa nay hạng người danh lợi
Vẫn tất tả ở ngoài đường sá
Hễ quán rượu ở đầu gió có rượu ngon
Thì người tỉnh thường ít, mà người say vô số
Bãi cát dài, bãi cát dài, biết tính sao đây?
Bước đường bằng phẳng thì mờ mịt, bước đường ghê sợ thì nhiều
Hãy nghe ta hát khúc ca "đường cùng"
Phía Bắc núi Bắc, núi muôn trùng
Phía Nam núi Nam, sóng muôn đợt
Anh còn đứng làm chi trên bãi cát?

Dịch thơ:

Bãi cát dài, lại bãi cát dài
Đi một bước, như lùi một bước
Mặt trời tắt mà ta vẫn đi
Khách trên đường chan chan nước mắt
Sao không học tiên Ông phép ngủ
Cứ trèo non lội suối kêu hoài?
Trên đường danh lợi những ai
Long đong thế mãi ở ngoài dặm xa?
Có quán rượu nơi đầu ngọn gió
Tỉnh nhiều đâu? Vô số kẻ say
Cát dài, biết tính sao đây?
Đường bằng thì ít, chông gai thì nhiều
Nghe ta ca "đường cùng" khúc hát
Phía Bắc kia, núi Bắc điệp trùng
Biển Nam muôn đợt sóng lừng
Đứng trên bãi cát ngập ngừng làm chi?

(Vũ Bình Lục dịch)

Cao Bá Quát viết hay ở nhiều thể loại thơ ca. Ở thơ luật Đường, ở Cổ phong… Tuy nhiên, có lẽ chỉ ở thể "ca", các bài ca, mới là nơi có thể ôm chứa đầy đủ tầm vóc tâm hồn và cốt cách thi nhân. "Sa hành đoản ca" là một bài ca tiêu biểu trong các bài "ca" của Thi thánh Cao Bá Quát.

Bốn câu đầu, miêu tả cuộc hành trình trên bãi cát dài. Không phải một bãi cát, mà liên tiếp những bãi cát dài, mênh mông bất tận: "Bãi cát dài, lại bãi cát dài". Còn người đi trên bãi cát thì sao? "Đi một bước, như lùi một bước". Đi, mà như không thể nào tiến lên được! Vài nét chấm phá, khiến ta hình dung thấy đầy đủ sự gian truân, vất vả như thế nào của kẻ lữ hành. Mà ngày đã cạn, mồ hôi dường đã kiệt, sức đã tàn, bến bờ chưa tới. Chưa tới, nên chưa thể dừng được, không thể nào dừng lại nghỉ ngơi được, nên chi: Lữ khách trên đường nước mắt rơi…

Chỉ với bốn câu thơ ngắn gọn, mà khái quát đầy đủ về một thiên nhiên khắc nghiệt và một con người cô đơn bất hạnh. Không gian rộng lớn, choáng ngợp, cùng với thời gian nghiệt ngã, như bủa vây, như bóp nghẹt con người nhỏ nhoi tội nghiệp, đáng thương.

Bốn câu tiếp theo, có vẻ như không dính dáng gì với bốn câu đầu. Đó là những suy tư trăn trở về lẽ đời và bộc bạch tâm trạng:

Không học được tiên ông phép ngủ
Trèo non, lội suối, giận khôn vơi!
Xưa nay phường danh lợi
Tất tả trên đường đời…

Tú Xương từng chán nản, phẫn uất kêu lên: "Ngủ quách sự đời, thây kẻ thức"! Cao Chu Thần tự trách mình  "không học được Tiên Ông phép ngủ"…Ngủ để quên đi cái sự đời thật đáng giận, "giận khôn vơi"! Mà giận ai kia chứ? Có lẽ nhà thơ giận chính mình, trước hết. Chiếc mũ nhà Nho như chiếc vòng kim cô, buộc thắt một trí tuệ, trói chặt một tâm hồn khoáng đạt, khao khát tự do, không phải chỉ là tự do cho riêng mình. Nhà thơ lầm lỡ theo thiên hạ bước chân vào vòng danh lợi mà không thể nào, hoặc chưa có cách gì thoát ra được, phải "trèo non lội suối", phải tất tả lận đận trên đường đời, giận này biết bao giờ vơi! Cao Bá Quát giận đời, nhưng ở đây tác giả giận mình, tự giày vò mình là chính, vì những lầm lỡ, uổng phí cả một đời trai trẻ tài hoa. Đó chính là bi kịch xót xa của kẻ sĩ chân chính, không gặp thời.

Bài ca tiếp nối bằng một câu hiện thực, nhưng lại được khái quát như một triết lý về thói đời, về sự say sự tỉnh: (Hễ) "quán rượu ở đầu gió rượu ngon/ (Thì) người tỉnh thường ít mà người say vô số"!  Không hẳn là một quán rượu có thật, bởi vì tác giả chỉ mượn mùi men thơm nồng quyến rũ, để luận về một cái "say" cái "tỉnh" vô hình vô ảnh ở đời. Thời cổ đại Trung Hoa, Khuất Nguyên cũng đã từng nói rằng thiên hạ "say" hết, chỉ mình ông "tỉnh". Thiên hạ "đục" hết, chỉ mình ông "trong". Nguyễn Trãi cũng đã nhiều lần than thở như thế… Đó là sự thật, một sự thật ở thời nào cũng thấy, như một căn bệnh xã hội trầm kha, chẳng phải đáng buồn lắm hay sao?…

Rồi thi nhân lại cất lên tiếng hỏi, như là một tiếng kêu chới với, thất vọng, hoang mang và bế tắc: "Bãi cát dài, bãi cát dài ơi!/ Tính sao đây?"… Biết tính sao đây, khi mà "Đường bằng mờ mịt/ Đường ghê sợ còn nhiều!". Hỏi trời đất và hỏi chính mình, day dứt, hoài nghi. Một câu hỏi lớn không lời đáp. Nhưng trước mắt vẫn là muôn trùng trở ngại, thì hãy cất lên tiếng ca bi phẫn:

Hãy nghe ta hát khúc "đường cùng"
Phía Bắc núi Bắc, núi muôn trùng
Phía Nam biển Nam, sóng dào dạt
Anh đứng làm chi trên bãi cát?

Quả là tứ phía điệp trùng bủa vây, những núi Nam núi Bắc và mênh mông biển cả sóng cồn. Con người nhỏ bé bị kẹt giữa thiên nhiên trời đất vô cùng, mờ mịt, còn biết đứng làm chi trên bãi cát cuộc đời, mà không đau đớn ca lên khúc ca "đường cùng" ?

Một bài ca ngắn (đoản ca), trên bãi cát dài, mà tình điệu thì vô cùng vô tận. Đó chính là tiếng lòng chứa chất bao nỗi niềm bi phẫn, bế tắc của Cao Chu Thần trước "bãi cát cuộc đời"  trớ trêu, mà "đường bằng mờ mịt, đường ghê sợ thì nhiều". Và một câu hỏi lớn, khắc khoải khôn vơi, như báo hiệu một cơn giông đang nhóm lên ở phía chân trời…

Nhìn tổng thể, "Sa hành đoản ca" là một ẩn dụ toàn bài. Những hình ảnh hiện thực, chỉ là những tiết điệu nhấn nhá cho một hàm ẩn đa tầng, đầy vơi giằng xé tâm trạng. Thể ca như tấm áo choàng, khoác lên hình hài một tâm hồn lộng gió bốn phương.

Có thể ước đoán Cao Bá Quát viết "Sa hành đoản ca" khi ông trở về sau chuyến "Dương trình hiệu lực", bốn năm sau (1847) thì lại bị phát phối, lưu đày đi làm lính thú ở thành Điện Hải (Đà Nẵng) và một số tỉnh miền Trung, như Quảng Nam, Quảng Ngãi. Ở đây, Cao Bá Quát viết những bài thơ nổi tiếng, như "Sa hành đoản ca", "Trà Giang thu nguyệt ca", "Cùng Bùi Nhị Minh Trọng", "đêm đậu thuyền bên sông Trà"… Từ khi bị mắc vào lưới đời, lâm vào cảnh tù ngục, Cao Bá Quát cảm thấy con đường chính trị của ông từ đây xem như chấm dứt, không còn cơ hội ngóc đầu lên được. Con đường công danh trở nên u ám, tối tăm và bế tắc. Mỗi bước đi trên bãi cát dài, chính là mỗi bước khổ ải trên "con đường danh" đầy chông gai, đầy ghê sợ! "Sa hành đoản ca", chính là tâm sự cay đắng của kẻ sĩ cùng đường, chứa chất muôn nghìn bi phẫn!

Vũ Bình Lục

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).