Rước nước - đón rước sự sống, lẽ sống!

Ở nước ta, tục rước nước đang phục hồi để trở thành một nghi thức quan trọng của nhiều lễ hội. Không chỉ có ở vùng văn minh nông nghiệp, tục này là một nghi lễ thiêng xuất hiện ở hầu hết các vùng văn hóa khác trên thế giới.

Vì nước là sự sống, rước nước mang ý nghĩa đón rước sự sống, sức sống. Chịu sự quy chiếu của đời sống phong tục, tập quán, các nghi thức rước nước biểu hiện ra bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng chung bản chất, mang tính biểu tượng sâu thẳm các ý nghĩa nhân văn cần khám phá.

Với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, ngày nay con người đang đi tìm kiếm các hành tinh khác ngoài trái đất. Dấu hiệu đầu tiên của hành tinh ấy có sự sống là có nước (hoặc biểu hiện thành phần hóa học của nước) hay không. Với con người, nước chiếm khoảng 70% trọng lượng trong cơ thể. Người có thể nhịn đói tối đa 3 tuần nhưng nhịn khát tối đa chỉ được 5 ngày. Là một trong những yếu tố cần thiết cơ bản nhất với đời sống, nước được "thiêng hóa" để được "rước" trong các lễ hội, là dễ hiểu.

image001.jpg -0
Hình ảnh nghi lễ rước nước sông.

Sự "thiêng hóa" này có trong nghi lễ cầu mưa: "Lạy trời mưa xuống/ Lấy nước tôi uống/ Lấy ruộng tôi cày/ Lấy đầy bát cơm/ Lấy rơm đun bếp/ Lấy tệp bánh chưng/ Lấy lưng hũ rượu.…". Có mưa thì có nước. Điều thiết thực đầu tiên là để "uống", sau đó mới là các chuyện cấy cày khác.

Cũng chẳng xa xôi, cuối thế kỷ XX, ở nông thôn, nhiều gia đình vẫn dùng nước mưa làm nước uống (không đun sôi). Do vậy, bể nước mưa rất quan trọng, không chỉ chứa nước, còn là "thước đo" sự "phong lưu". Chỉ nhà nào có "của ăn của để" mới xây được bể nước mưa lớn. Nhà nghèo chỉ có chum vại. Nước mưa được hứng từ mái ngói và từ những thân cau. Phải năm đói kém hoặc bận làm ăn, ngày giỗ đến, chỉ "lòng thành" bằng quả trứng, chén nước mưa, một nén hương…

Như vậy, tục rước nước trong lễ hội cũng đã có nguồn gốc từ ngay trong ngày thường. Nước mưa cũng được "thiêng hóa" ở mỗi gia đình. Sắp đến ngày Tết cuối năm, các cụ ta "tắm rửa" ngai thờ, bài vị tổ tiên bằng nước mưa. Khách đến, pha trà cũng phải bằng nước mưa hoặc nước giếng chùa, tức nước thiêng, chứ không thể nước ao ngòi…

Trong văn hóa thế giới, cũng tương tự. Trong nhiều từ vựng châu Âu, châu Mỹ, mưa đồng nghĩa với tinh khí (làm thụ thai), với hạt giống, với sữa mẹ, thậm chí với cả máu. Người Sumer cổ tin rằng mưa là tinh dịch của thần bầu trời (An) rơi xuống để thụ tinh cho vợ là nữ thần trái đất (Ki). Thần Ki sinh ra mọi cây cối, hoa màu. Người Akkad cổ cho rằng mây là ngực còn mưa là sữa của nữ thần Antu, cây cối được uống sữa này mới tươi tốt.

Có quốc gia cổ vùng Trung Á đồng nhất tên gọi tiền tệ với danh từ mưa, cũng là một cách đề cao: "Mưa quý như tiền/vàng". Những điều ấy dựa trên một thực tế là nhờ có mưa (một thứ đạm tự nhiên tốt cho cây trồng) sự vật mới sinh sôi phát triển. Đạo Hồi cho rằng Chúa Trời sai thiên thần xuống cùng với những giọt mưa. Tức đồng nhất mưa với các thiên thần giáng thế. Đạo Hindu quan niệm các đấng anh linh giấu mình trong những giọt mưa đi từ mặt trăng xuống... Hầu hết các tôn giáo rất đề cao mưa, coi đó là ơn trời; là hạnh phúc, may mắn; là sứ giả nhà trời; là cầu nối trời - đất...

Thành ngữ Việt nói: "Mưa tháng ba hoa đất" tức mưa tháng ba rất đẹp, rất quý, đất như nở hoa, cây cối tươi tốt. Trong hệ từ vựng các nước văn minh nông nghiệp đều có các thành ngữ hoặc tục ngữ cố định nói về mưa, như "quý như vàng", "trận mưa vàng"... Người Việt có cách nói "ơn mưa móc" chỉ ơn huệ của bề trên, đồng thời quan niệm mưa cũng là hạnh phúc nên có thành ngữ "Mưa bao giờ mát mặt bấy giờ" - một triết lý về đời sống: sung sướng hạnh phúc lúc nào biết lúc ấy. Theo "Kinh Dịch" mưa thuộc quẻ "càn" tức thuộc trời, được hiểu theo nghĩa trời làm ra mưa, trời cho mưa thì được, không cho thì phải chịu, nên khi cần phải xin (cầu) trời. Lễ hội cầu mưa là cầu trời cho mưa. 

Với người nông dân lúa nước xưa, mưa là một "lễ hội" trong lòng. Hành vi hứng nước mưa cũng là một hình thức "rước nước" do "trời ban"!?

Một đặc trưng phổ quát, cơ bản của lễ hội là tính thiêng. Sự "thiêng" của vị thần được "tế" tỷ lệ thuận với tầm vóc lễ hội. Thần càng "thiêng", lễ hội càng lớn, càng đông người thập phương về dự. Với văn minh nông nghiệp thì hầu hết các thần được thờ đều gắn bó, gần gũi với sông nước. Thế nên rước nước, hẳn nhiên, nước đó phải là nước thiêng. Ngoài nước mưa, nước thiêng còn có trong tự nhiên, phải ở nơi thiêng.

Theo phong thủy phương Đông, nước thiêng phải ở nơi "tụ thủy". Thuật ngữ "đường tiền tụ thủy" tức phía trước nhà có nước tụ lại, là nhà có thế đất đẹp. "Tụ thủy" lại phải ở dạng "hoạt thủy" tức nước luôn lưu thông, không phải là "tử thủy" tức nước tù đọng (ao tù). Vì lẽ này trước các cơ quan công sở lớn (Đài Loan (Trung Quốc), Singapore, Việt Nam…) thường xây dựng các đài phun nước, thực chất là cách "dẫn tài khí nhập thất" tức dẫn của cải, phong khí, vận khí tốt đẹp, mới mẻ vào nhà.

"Hoạt thủy" còn phải là nước trong sạch, trong thế lưu chuyển, chảy vừa phải, không thành sóng lớn, không quá chậm. Do vậy, nước thiêng là nước ở giữa sông, tốt nhất ở giữa các ngã ba - nơi hợp lưu của các dòng (mang ý nghĩa sinh sôi, nảy nở), nước vừa ở thế "tụ" vừa trong sạch. Hầu hết các lễ hội (có rước nước) diễn ra vào mùa xuân, phong khí tốt, không mưa không nắng (to), không gió (to), mực nước sông vừa phải nhất (trong năm).

image003.jpg -1
Một nghi lễ cầu mưa (Tranh cổ Nhật Bản).

Nhìn từ phong thủy và theo quan niệm dân gian, nước giữa ngã ba Bạch Hạc (Việt Trì - Phú Thọ) nơi gặp gỡ của ba dòng (sông Thao, sông Đà, sông Lô) nên tốt nhất. Có truyền thuyết kể Hoàng tử Lang Liêu lấy nước ở ngã ba Bạch Hạc ngâm gạo làm bánh chưng. Lại có truyền ngôn "thiêng hóa" bằng cách kể chính giữa ngã ba này Lạc Long Quân và Âu Cơ "chia tay", người dẫn 50 con ngược sông lên rừng, người dẫn 50 con xuôi dòng xuống biển.

Có sách còn nói đặc trưng nước ở đây có mùi rất thơm. Từ xa xưa dân gian có tục lấy nước ở ngã ba Bạch Hạc về rửa xương ông bà khi sang cát... Lại thêm chi tiết không phải ai cũng lấy được nước thơm, phải là người có tấm lòng thơm thảo. Còn người tham lam, xấu tính có ra giữa dòng, giữa đêm (thời điểm tốt nhất, lúc trời đất giao hòa), thì nước vẫn là nước, không mùi vị… Quả là một ý nghĩa giáo dục thâm thúy.

Tục rước nước từ ngã ba Bạch Hạc không chỉ có trong ở Lễ hội Bạch Hạc (tại đền Tam Giang thờ thần Vũ Phụ Trung Dực Uy Hiển Vương thời Hùng Vương và Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật sau này và thờ Mẫu), còn diễn ra quanh năm.

Nước thiêng ở ngã ba Tuần Vường - nơi giao nhau của sông Luộc, sông Hồng, sông Thái Bình được "rước" về khu đền Trần (Hưng Hà, Thái Bình) để tổ chức lễ hội. Ở các vùng không có ngã ba thì lấy nước giữa sông lớn, gọi là "dòng nước hai".  Lễ hội Hoa Lư (Ninh Bình), nước được "rước" từ giữa sông Hoàng Long gợi về tích Rồng vàng đưa Đinh Bộ Lĩnh qua sông lập công cứu Vua. Sau khi lên ngôi, hằng năm Vua Đinh cho lập đàn tràng tế Thần Long và xin nước sông về tế ở Thái miếu, cầu quốc thái, dân an, thể hiện đạo lý biết ơn.

Ở các vùng xa sông lớn thì lấy nước ở hồ, ở giếng đã được "thiêng hóa" trong truyền thuyết và lịch sử. Lễ hội tại Thái miếu nhà Trần (trong quần thể Khu di tích lịch sử Đông Triều - Quảng Ninh) rước nước ở giữa hồ Trại Lốc. Nước được múc vào chum, tế lễ xong thì chia nước cho các gia đình trong thôn để lấy phúc. Địa danh đặc biệt Trại Lốc - nơi đặt Thái miếu, quê gốc nhà Trần. Lấy nước ở hồ Trại Lốc cũng sâu sắc một ý nghĩa "Uống nước nhớ nguồn". Với quan niệm giếng là "long mạch", là nguồn tụ thủy, tụ phúc, Lễ hội đền Trần (Nam Định) rước nước (đựng vào chóe) từ giếng Rồng (phía đông đền Cố Trạch) về đền Thiên Trường thực hiện nghi lễ dâng nước, tế cá.

Nhìn một cách chung nhất các lễ hội có nghi thức rước nước ở ta cho thấy, về bản chất, rước nước là hình thức khuyến nông. Nhưng đó cũng chỉ là lớp mã bề ngoài, phổ quát, còn là bao ý nghĩa nhân văn, là khát vọng bình yên, là cầu mong may mắn tốt lành, là tái hiện lịch sử để nhắc nhở đạo lý "ăn quả nhớ người trồng cây"… Hầu hết các dân tộc vùng núi cao phía Bắc nước ta, cũng có nghi thức "rước nước đầu nguồn" cùng với các ý nghĩa trên. Như vậy, rước nước chỉ là vỏ hình thức, cái lõi nhân văn bên trong là đón rước sự sống, lẽ sống, tức đạo lý ở đời. Đó là một nét bản sắc văn hóa cần giữ gìn, phát triển.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).