Rực rỡ chợ Tết Mường

Một sáng ngày cuối chạp, gió chợt nồng dịu hơn khi lùa qua vách ngôi nhà sàn. Trời len lén những ánh vàng âm ấm giao mùa phía đầu núi. Cây mận cuối vườn nhu nhú nụ căng ngần, như chỉ đợi một cơn mưa phùn thôi sẽ bung trắng gọi Giêng về. Bếp mẹ nhen lên còn chưa kịp ấm khói, đã nghe đầu đường, cuối dốc rộn rã tiếng nói cười của trẻ nhỏ, tiếng í ới gọi hẹn của trai gái bản làng. 

Từ gầm sàn, mẹ tất bật gánh lưng nếp nương cùng vài đon lá dong, bó lạt giang vội vã cho kịp đoàn người. Ấy là ngày phiên chợ Tết hai lăm tháng chạp, phiên chợ lớn nhất trong năm ở Mường... Bữa ấy, tất thảy già trẻ, gái trai, kẻ giàu người nghèo, dù có tiền hay không một xu dính túi, kẻ bán nọ mua kia hay chẳng mua chi bán gì cũng sẽ đi phiên chợ Tết này. Đi chợ chỉ để vui, đi chợ như đi một ngày hội đặc biệt ở Mường.

Phiên chợ Tết ấy có từ bao giờ không rõ nữa, chỉ nhớ rằng, từ khi lên bốn, lên năm tôi đã biết đến ngày này như một điều quan trọng nhất để có một cái tết ý nghĩa, trọn vẹn. Và nó làm những đứa trẻ như tôi ở Mường mơ ước, chờ đợi cả năm ròng đằng đẵng.

Thời tôi bé, trẻ con nhà nào cũng nghèo như nhau, nên để được mặc quần áo mới thì phải đợi phiên chợ Tết. Mong chợ để được xuống phố xem những sạp hàng bày bán bao thứ lạ mắt, đẹp đẽ, để được ăn vài thứ bánh kẹo mà cả năm chẳng mấy khi được thấy, rồi được mua một vài quả bóng bay xanh đỏ khoe với nhau. Từng ấy thứ thôi mà xa xỉ đến độ cứ trở đi trở lại trong giấc mơ tôi cả bao ngày tháng của bốn mùa dài rộng.

Một góc phiên chợ ngày Tết của người Mường.
Một góc phiên chợ ngày Tết của người Mường.

Tôi còn nhớ rất rõ cảm giác hồi hộp, nôn nao, rạo rực của những đêm trước ngày chợ phiên. Bọn trẻ chúng tôi đứa nào cũng không ngủ được, mắt cứ chong chong mong trời sáng. Nằm đếm được từng canh gà thức ngày, và trở dậy rất nhanh khi ngoài cửa voóng vừa có chút ánh sáng mờ mờ sau hồi tiếng gà báo rạng. Quần áo mới từ đêm hôm trước được gấp sẵn để ngay cạnh chiếu ngủ, tỉnh dậy là quờ vội thay ngay vào người.

Tháng Chạp trời lạnh lắm, quần áo mới đẹp nhưng mỏng manh. Ngày Tết mẹ không có tiền để mua tất cả quần áo ấm cho lũ con, nên chỉ mua mỗi đứa một bộ thường mong mỏng. Chúng tôi ngày đó không có nhiều đồ mặc ấm, một chiếc áo khoác hay áo len mặc đến độ vàng nâu lấm cặn, giặt bữa nào thì hong vội bếp lửa cho kịp khô bữa ấy. Nhưng ngày chợ Tết thì dù lạnh đến mấy cũng không đứa nào mặc đồ cũ lên người, niềm sung sướng có áo mới đã làm chúng tôi thấy quên lạnh.

Hôm ấy, mẹ trở dậy sớm hơn mọi khi, nhóm bếp lửa cho chúng tôi ngồi đợi sáng. Cả nhà cùng thức theo vì tiếng nói cười rộn rã, háo hức. Chỉ đợi nhìn rõ mặt đường, sương còn đặc trĩu trên cỏ, trên lá là ngoài ngõ, đầu bản, cuối núi đã ríu rít, ồn ã tiếng trẻ con cười nói, gọi nhau. Con đường làng nhộn nhịp, tươi sáng như luống đất vừa nở hoa, bởi đâu đâu cũng rực rỡ màu áo mới. Môi lũ chúng tôi thâm tái đi, nhưng nụ cười thì luôn rạng ngời…

 Phiên chợ ấy người già cũng rủ nhau đi chơi. Họ cũng như trẻ con,  muốn nhìn phố xá, hàng quán nhộn nhịp, xem cuộc sống mỗi năm thay đổi thế nào, cũng mong được gặp gỡ lại những người quen, bạn già cũ. Những người đã từng biết nhau, từng là bạn, thậm chí thời son trẻ từng yêu thương, thề hẹn, vì cuộc sống mà lỡ dở hay cách biệt. Bây giờ tóc trắng, răng đen gặp lại nhau ở chợ phiên, dù chỉ để ngồi bên mé đường mời nhau miếng trầu cay, hỏi han trò chuyện hay rong ruổi đường xa, hát với nhau câu xường cũ cũng thấy quý giá và vui sướng biết bao.

Người già không đi chợ vào lúc tinh sương như trẻ nít mà họ đợi lúc trời tan sương, ráo lá, ấm đường mới bắt đầu chống gậy, đeo dón xuống thang. Họ cũng hẹn gọi, chờ đợi, tụ tập nhau rồi cùng đi. Cụ nào có bộ váy áo mới nhất, đẹp nhất cũng đem ra diện. Trong cạp váy có khi chẳng có đồng tiền nào giắt vào, nhưng trong dón các bà phải có trầu têm, cau bổ để ăn đường, mời bạn. Con đường từ bản đến chợ huyện rộn rã tiếng hỏi han, cười đùa. Người già đôi khi chào hỏi nhau bằng những đoạn Đang, đoạn Xường đối đáp, nên chợ phiên ấy chỉ thiếu tiếng cồng chiêng nữa là thành một lễ hội Mường đặc biệt.

Trai làng, gái bản thì đi chợ như đến một lễ hội duyên, để mong được gặp gỡ, hội ngộ bạn bè khắp Mường quen Mường lạ, để mong tìm lại người cũ nào đó đã thất lạc từ lần chợ phiên năm trước mà chưa kịp biết tên, biết nhà, hay để mong tìm được người tri kỉ, bạn trăm năm trong những đám đông ngày chợ.

Có khi họ chẳng kịp bước chân vào chợ để xem quán hàng hay mua gì đó, mà chỉ tụm năm, tụm bảy để hàn huyên, thăm hỏi, làm quen với nhau ven đường, góc phố cho đến khi vãn chiều, thậm chí đến đêm mới trở về. Nhiều cuộc hò hẹn đã được bắt đầu từ một buổi chợ như thế, và biết bao nhiêu cuộc duyên đã thành đôi lứa từ những lần chợ phiên thế này.

Đàn ông có gia đình thì thường đi chợ để mua rượu, mua thuốc lào, nhưng cũng có khi họ xách theo chai rượu ngô, rượu củ dành dụm lâu nay để xuống chợ, gặp hẹn bạn bè, anh em ở đâu là say đến cạn ngày ở đó. Chỉ có các mẹ, các cô bận bịu với những gánh hàng đơn sơ, lo bán mua làm sao đủ tiền quà bánh cho lũ nhỏ.

Phụ nữ Mường dù bận rộn đến mấy vẫn không thể vắng mặt trong phiên chợ Tết lớn nhất của năm.
Phụ nữ Mường dù bận rộn đến mấy vẫn không thể vắng mặt trong phiên chợ Tết lớn nhất của năm.

Hồi đó, đi chợ dẫu xa hay gần cũng chỉ lội bộ vì không có phương tiện gì khác, mà dầu nhà nào đó có cái xe đạp Thống Nhất hay xích hộp cũng chẳng dùng nó vào ngày này. Cái thú của chợ Tết Hai Lăm là được đi bộ nhởn nha, để gặp gỡ, để trò chuyện, để la cà mà vui bạn, vui đường, chứ có vội mua chi, bán chi mà đi cho nhanh, cho kịp. Mà có đem theo xe cũng chẳng thể len nổi khi ra đến phố chợ đông nghẹt những người là người.

Bây giờ người ở Mường có thể một tháng vài lần ra phố, phố chợ không còn quá lạ lẫm và thiếu thốn. Người đi chợ Tết không còn giữ được những nét văn hóa đẹp như trước kia. Thế nhưng, phiên chợ Tết cuối tháng Chạp vẫn là phiên chợ được người ở Mường thích thú, hào hứng nhất trong cả một năm dài.

Trẻ con vẫn thức giấc từ tinh sương, mặc áo mới theo mẹ ra chợ ăn thỏa thuê quà bánh. Người già vẫn đem trầu xuống chợ để xem phố phường, để mong gặp được bạn cũ. Trai Mường gái bản sau cả năm bươn bả công việc, học tập, dầu Nam hay Bắc vẫn vội về kịp đi chợ Hai Lăm Tết như để hưởng lạc sự an lành, bình yên, để ngơi nghỉ, vui chơi cho qua nhọc nhằn và nhung nhớ.

Và từ ngày Hai Lăm Tết ấy trở đi, ở Mường đã bắt đầu được tính là Tết. Gác hết việc ruộng rẫy, nhà nhà lo chuẩn bị cho Tết nhất. Những ngày chợ sau ngày 25 cũng bắt đầu là những buổi chợ mua bán hàng Tết. Tôi thích những buổi trưa ngồi ở cửa vóong, hướng mắt theo phía âm thanh ồn ã, nhộn nhịp bên con đường dưới chân núi sau nhà, nhìn đoàn người trong bản theo nhau vào đồi hái lá dong, kiếm củi, chặt đào, chẻ giang tước lạt bánh.

Những lưng chiều tất bật bên bờ suối cùng các chị, các cô đánh rửa nồi niêu, bát đĩa, rộn ràng, hoặc ngồi trên bếp nghe tiếng người ta chia chác nhau những phần thịt lợn dưới sân lớn. Chẳng biết nhiều ít ra sao, nhưng giọng nói câu cười nào cũng ấm áp vui tươi.

Và cũng từ ngày phiên chợ Hai Lăm Tết trở đi, khách đến Mường đã có thể được mời chén rượu xuân, ăn miếng xôi tết cùng gia chủ, ấm cúng bên bếp lửa mà lắng nghe mưa phùn ngoài cửa voóng thầm thì phả lên môi những nụ mận, nụ đào lời hẹn hò cho một sớm mai bung bông đón Tết về rực rỡ.

Tú Anh - Xuân 2018

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).