Ru mãi ngàn năm

Cuộc đời mỗi con người từ khi bắt đầu sinh ra tới khi tạm biệt trần gian được thưởng thức vô vàn những âm thanh đẹp đẽ, kỳ diệu như những món quà mà tạo hóa trao tặng. Nhưng có một âm thanh thật đặc biệt, nó đến với rất nhiều người trong số chúng ta từ thuở ấu thơ khi còn nằm trong nôi hoặc trong vòng tay của mẹ, của bà, của chị, ru ta vào giấc ngủ ngọt ngào, dệt nên những cảm xúc yêu thương trìu mến mà ta sẽ mang theo đến trọn cuộc đời, đó là lời ru.

Lời ru đưa nôi

Lời ru đến với tâm hồn trẻ thơ từ những làn điệu dân ca không biết đã có tự thời nào: “Gió mùa thu mẹ ru con ngủ/ Năm canh chày thức đủ  năm canh... /Hãy nín nín đi con, hãy ngủ ngủ đi con, con hời mà con hỡi” (Ru con - Dân ca Bắc Bộ). Lời ru đi vào những bài ca dao từ thời Bà Trưng Bà Triệu: “À ơi con ngủ cho lành/ Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi/ Muốn coi lên núi mà coi/ Coi tướng Bà Triệu cưỡi voi đánh cồng”.

Người Mường cũng có bài ca dao ru con nổi tiếng mang tên “Mười tay”: “Bồng bồng con nín con ơi/ Dưới sông con cá lội ở trên trời chim bay/ Ước gì mẹ có mười tay/ Tay kia bắt cá còn tay này bắn chim/ Một tay chuốt chỉ làm kim/ Một tay đi làm ruộng một tay tìm hái rau/ Một tay ôm ấp con đau/ Một tay đi vay gạo một tay cầu cúng ma/ Một tay khung cửi muối dưa/ Còn tay để van lạy để bẩm thưa đỡ đòn/ Tay nào để giữ lấy con/ Tay nào lau nước mắt mẹ vẫn còn thiếu tay/ Bồng bồng con ngủ con say/ Dưới sông cá vẫn lội chim vẫn bay trên trời”.

Ta cảm nhận được tình thương của người mẹ bao la đến thế nào trong bài ca dao xưa. Từ câu mở đầu đến câu kết thúc, dường như đứa trẻ đã chìm vào giấc ngủ bên những thanh âm ngọt ngào của người mẹ, để mỗi ngày lớn lên, đứa trẻ ấy sẽ càng thêm hiểu về những hy sinh lặng thầm không gì đo đếm được của người mẹ mong con khôn lớn.

Lời ru của mẹ là những bài học tinh khiết đầu đời nuôi dưỡng tâm hồn con trẻ.
Lời ru của mẹ là những bài học tinh khiết đầu đời nuôi dưỡng tâm hồn con trẻ.

Âm điệu dìu dặt tha thiết của thể lục bát gắn với những lời ru sau này còn hiện về trong những câu thơ của Nguyễn Duy: “Ta đi trọn kiếp con người/ Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru (...) Mẹ ru cái lẽ ở đời/ Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn/ Bà ru mẹ mẹ ru con/ Liệu mai sau các con còn nhớ chăng” (Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa), của Trần Quốc Minh: “Lời ru có gió mùa thu/ Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về/ Những ngôi sao thức ngoài kia/ Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con/ Đêm nay con ngủ giấc tròn/ Mẹ là ngọn gió của con suốt đời” (Mẹ).

Trong văn học thời chống Mỹ, “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” xứng đáng được coi là một tuyệt phẩm của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Ở đây, hiện lên hình ảnh người mẹ vừa nuôi con chăm con vừa hăng say lao động sản xuất, góp sức mình vào cuộc kháng chiến của toàn dân tộc: “Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi/ Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ/ Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội/ Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng/ Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi/ Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối/ Lưng đưa nôi và tim hát thành lời/ Ngủ ngoan akay ơi, ngủ ngoan akay hỡi/ Mẹ thương akay mẹ thương bộ đội/ Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần/ Mai sau con lớn vung chày lún sân”.

Bài thơ được viết năm 1971 và ngay lập tức được nhạc sĩ Trần Hoàn phổ nhạc, trở thành một ca khúc nổi tiếng của Việt Nam suốt gần nửa thế kỷ qua. Cũng trong giai đoạn văn học chống Mỹ còn phải nhắc đến một khúc ru thơ nổi tiếng nữa - bài “Con cò” (1967) của Chế Lan Viên mà trong đó, có những câu thơ đã đạt tới phẩm chất có thể thoát ly khỏi thi phẩm để mang một đời sống độc lập: “Con dù lớn vẫn là con của mẹ/ Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con/ À ơi/ Một con cò thôi/ Con cò mẹ hát/ Cũng là cuộc đời/ Vỗ cánh qua nôi/ Ngủ đi ngủ đi/ Cho cánh cò cánh vạc/ Cho cả sắc trời/ Đến hát/ Quanh nôi”.

Sau 1975,  Lâm Thị Mỹ Dạ với bài thơ “Trắng trong” được nhạc sĩ Phạm Tuyên phổ nhạc thành bài hát “Khúc hát ru những người mẹ trẻ” đã góp thêm một khúc ru thơ - nhạc đặc sắc nữa cho nền văn học Việt Nam thời hiện đại: “Đôi làn môi con nghiêng về vú mẹ/ Như cây lúa nhỏ nghiêng về phù sa/ Như hương hoa thơm nghiêng về ngọn gió/ Đôi làn môi con ngậm đầu vú mẹ/ Như búp hoa huệ ngậm tia nắng trời (...)Sữa mẹ trắng trong con ơi hãy uống/ Rồi mai khôn lớn con ơi hãy nghĩ những điều trắng trong”. Còn nhiều ca khúc thành công về lời mẹ ru nữa mà chúng tôi chỉ có thể nhắc tới nhan đề chứ chưa đủ thời gian để bàn kỹ như “Mẹ yêu con” (Nhạc và lời: Nguyễn Văn Tý), “Ru con mùa đông” (Nhạc và lời: Đặng Hữu Phúc)...

Nhưng đặc biệt nhất trong những lời ru của mẹ dành cho con là lời ru khi đứa con thân yêu không còn nữa. Đó chính là tứ thơ độc đáo gây xúc động khôn nguôi trong bài “Lời ru cỏ non” của nữ tác giả Kim Châu (thân mẫu của nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm): “Mẹ ngồi bên nấm mộ con/ Là ngồi bên tấm nôi tròn ngày xưa/ Xót đau biết mấy cho vừa/ Hoàng hôn đời mẹ cơn mưa lại về/ Hiu hiu gió thổi trưa hè/ Mà không đỏ nổi đầu que hương buồn/ Con nằm giữa bạn bè con/ Tay già run rẩy khói vờn vòng tang…”.

Bài thơ được tác giả kể về hoàn cảnh ra đời, đó là khi bà đi ngang qua một nghĩa trang liệt sĩ, thấy một người mẹ ngồi lặng bên mộ con như một pho tượng đá... Về sau, nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm qua một bài báo đã tâm sự thêm rằng, khi đọc bài thơ, không hiểu sao anh cứ nghĩ đây là bài thơ mẹ anh viết về bà Doãn Ngọc Trâm, mẹ của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm...

Lời ru của người tình    

Bên cạnh lời ru của tình mẫu tử sâu nặng, lời ru của người chị dành cho em (chẳng hạn như bài hát “Ru em” - dân ca Xê đăng), lời ru của bà dành cho cháu, thi ca của người Việt còn có những tác phẩm là lời ru của những đôi lứa, những người tình dành cho nhau. Khúc ru thơ dành cho người tình nổi tiếng đầu tiên trong thế kỷ XX theo tôi chính là bài Ngậm ngùi của thi sĩ Huy Cận: “Sợi buồn con nhện giăng mau/ Em ơi! Hãy ngủ...anh hầu quạt đây/ Lòng anh mở với quạt này/ Trăm con chim mộng về bay đầu giường/ Ngủ đi em mộng bình thường/ Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ.../ Cây dài bóng xế ngẩn ngơ.../ Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?/ Tay anh em hãy tựa đầu/ Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi...”.

Nhưng những khúc ru là nhạc phẩm càng về sau càng vượt trội lên hẳn so với những thi phẩm. Ngoài phần giai điệu đẹp, mượt mà, dễ thấm vào lòng người thì ca từ của nhiều ca khúc trong số này cũng xứng đáng được coi là những thi phẩm đích thực.

Và Trịnh Công Sơn chắc chắn là nhạc sĩ Việt Nam viết nên nhiều khúc ru cho người tình hơn cả. Không tính ba bài là lời ru của mẹ (“Lời mẹ ru”, “Ngủ đi con”, “Ca dao mẹ”), Trịnh có tới bảy ca khúc là những khúc ru người tình, khúc ru thân phận, ru nỗi cô đơn, ru cả cuộc đời, bao gồm: “Rơi lệ ru người “(1976), “Ru đời đã mất” (1972), “Ru đời đi nhé” (1973 - 1974), “Ru em” (1965), “Ru em từng ngón xuân nồng” (1964), “Ru ta ngậm ngùi” (1970 - 1971) và “Ru tình” (1993). Trong khuôn khổ của một bài viết nhỏ, chỉ xin được trích một đoạn ca từ đầy chất thơ trong số bảy ca khúc nói trên: “Ru mãi ngàn năm từng phiến môi mềm/ Bàn tay em trau chuốt thêm cho ngàn năm/ Cho vừa nhớ nhung, có em dỗi hờn nên mãi ru thêm ngàn năm/ Thôi ngủ đi em mưa ru em ngủ/ Tay em kết nụ, nuôi trọn một đời, nuôi một đời người/ Mùa xuân vừa đến xin mãi ăn năn mà thôi…”.

Nhạc sĩ Dương Thụ có hai ca khúc nổi tiếng được nhiều người yêu thích mang tên “Ru em bằng tiếng song” và “Bài hát ru cho anh”, trong đó ca từ của “Bài hát ru cho anh” dường như đã là một bài thơ trước khi được phổ nhạc: “Ru anh ru anh ngủ/ Đồi thông nghiêng xa mờ/ Vẩn vơ bóng liễu đỏ/ Mặt hồ xanh như mơ/ Ru anh ru anh ngủ/ Rồi mai hay bao giờ/ Niềm vui hay đau khổ/ Thật đời hay mộng mơ…”.

Nhạc sĩ Từ Huy cũng có ca khúc “Ru em” với phần ca từ mượt mà trong sáng. Nếu như lời ru của tình mẫu tử chủ yếu mang tính chất một chiều, thì ở những khúc ru tình, lời ru mang ý nghĩa "ru nhau", là những thanh âm say đắm làm hạnh phúc cả hai trái tim yêu: “Ai ru em giấc mộng những chiều vàng bơ vơ/ Cho anh làm cơn gió hôn dòng suối tóc tơ/ Anh ru em giấc ngủ bằng chiếc võng mây bay/ Anh ru em giấc ngủ hành trình những ngón tay…”.

Đất nước - Lời ru

Trong nền văn học nghệ thuật của người Việt còn những khúc ru đặc biệt nữa. Không phải là lời ru dành cho trẻ thơ, cũng không phải lời ru của những người yêu nhau, mà là lời ru của những người đồng đội trong cuộc chiến khốc liệt. Đó chính là tứ thơ độc đáo trong bài thơ mang tên “Lời ru đồng đội” của nhà thơ Nguyễn Duy được viết trong những ngày ở mặt trận biên giới phía Nam năm 1978: "Ngủ đi bạn ngủ đi anh/ Cánh tay mình ngả ra thành gối êm/ Ngủ đi bạn ngủ đi em/ Ngủ ngon giấc ngủ gối lên tay mình (...) Trái tim đập ở cổ tay/ Tim ta ru giấc ngủ đầy cho ta/ Cánh tay cặp khẩu AK/ Ngày là bệ súng đêm là gối êm”.

Và còn một lời ru lớn lao, vĩ đại hơn nữa, đó là lời ru của khát vọng làm Người, lời ru của tình yêu đất nước, lời ru để mỗi đứa trẻ khi sinh ra và lớn lên phải kế tục và tiếp bước hào khí bất khuất lẫm liệt của cha ông, xây dựng và bảo vệ quê hương: “Ru con mẹ ru con, tiểng ru cả cuộc đời/ Ru con lời ru cất lên từ ngàn đời/ Biển xanh xanh trời xanh xanh cho con bao hy vọng/ Rừng xanh xanh dòng sống xanh cho con bao hy vọng/ Lửa đã cháy ở phía trước lửa sáng mãi tình đất nước/ Xưa bao cha anh hành quân xa/ Nay thêm bao con cùng đi xa/Một màu xanh như áo cha, để mẹ lại ru trong bao la...” (Đất nước lời ru - Nhạc và lời: Văn Thành Nho).

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).