Rắn - Từ linh vật đến vật tổ

Dịch học phương Đông quan niệm, Tỵ thuộc âm hỏa, mùa hè, từ 9 đến 11 giờ sáng trong ngày, chỉ hướng Nam - Đông Nam. Những đặc trưng này phù hợp với loài rắn nên gọi năm Tỵ tức năm con rắn, mang khí dương, luôn cháy trong mình ngọn lửa sự sống sinh sôi.

Năm Ất Tỵ 2025 thuộc mệnh Hỏa (Phú Đăng Hỏa tức Lửa ngọn đèn) tượng trưng cho ánh sáng. Chiểu theo dịch lý, những người thuộc mệnh này trội hơn về cuộc sống tinh thần, khôn ngoan, nhanh nhẹn, trực giác mạnh, có năng lực sáng tạo, giàu khát vọng, thích đổi mới, ứng xử tinh tế, mềm mại. Nhưng, cần làm chủ cảm xúc cá nhân mới có thể thành công như ý. Họ có nhiều năng lượng, tính cách thâm trầm, nhẹ nhàng, biết cách độc lập làm việc nhưng cũng đồng thời tỏa sáng soi cho người khác thành công.

image003.jpg -1
Rắn Naga trong kiến trúc và điêu khắc chùa của người Khmer.

Cũng là quy luật, quá yêu cái gì hoặc quá ghét, quá sợ cái gì thì con người cũng đều “thiêng hóa” nó. Hầu như ở mọi vùng văn hóa đều coi rắn là linh vật được tôn thờ bậc nhất, ký gửi vào đó biết bao ý nghĩa cũng phong phú, đa dạng bậc nhất. Vì có nét nghĩa chung là sống ở nhiều môi trường, có ở hầu hết mọi nơi, trên núi, dưới biển, sa mạc, rừng rú, trên cây, dưới đất có đủ các kích cỡ, màu sắc, nên rắn được coi là biểu trưng cho sự khôn ngoan, tháo vát, thích ứng nhanh, cởi mở, dễ hòa nhập.

Có sức sinh sản mạnh mẽ, lại có đặc tính thay da để “trường sinh” nên rắn được coi là biểu tượng cho sức sống dẻo dai, bền bỉ. Thường ở trong hang, hình dạng và cách di chuyển uốn lượn dễ gợi ra sự hình dung về tính bí ẩn. Lại sở hữu nọc độc gây sự chết chóc (cho người và vật) nên rắn được coi là biểu trưng cho sức mạnh... Loài rắn hổ mang thường phát ra tiếng gió được gắn với ý nghĩa biểu trưng cho bão tố. Lưỡi rắn được gắn với hình ảnh tia chớp, biểu hiện trước của cơn mưa. Màu sắc và các sọc của rắn được gắn với hình ảnh cầu vồng... Từ những nét nghĩa đó, hình tượng rắn trong văn hóa trở nên hấp dẫn, lôi cuốn.

Trong tín ngưỡng người Syria, rắn sẽ cắn chết những kẻ xâm lược và bảo vệ dân chúng khỏi hiểm nguy, bệnh tật nên được tôn xưng như một vị thần phù trợ được thờ ở các đền thiêng... Từ thực tế rắn tự lột da để sống khỏe mạnh, trẻ trung hơn, người Hy Lạp coi rắn là biểu tượng của đất và nước trường tồn, vĩnh cửu. Loại nữ trang cổ Hy Lạp được ưa chuộng mang hình rắn khoanh tròn. Người Ai Cập cổ xem rắn như một vị thần tối linh, biểu trưng cho sự tái sinh, bất tử.

Khái niệm “Uraeus” tức “rắn hổ mang ngẩng đầu” là một biểu tượng của vương quyền, thần thánh trong văn hóa Ai Cập. Thế nên, các Pharaon thường mang trên mình hình ảnh rắn với mong muốn được sống mãi. Phù hợp với bản chất đa dạng của văn hóa, rắn lại thuộc biểu tượng hai mặt nổi bật những lớp ý nghĩa đối cực, thích thú và sợ hãi, tốt và xấu, sự sống và cái chết, hủy diệt và tái sinh, dục vọng và tội lỗi..., nên càng mời gọi, được quan tâm chú ý. Như lẽ tự nhiên, con rắn trườn vào ngôi đền biểu tượng thiêng của văn hóa nhân loại, có nơi coi rắn là vật tổ.

Trong Ấn Độ giáo, rắn hóa thân vào hai vị thần Vishnu - tượng trưng cho sự duy trì, bảo vệ đất đai và Shiva - tượng trưng cho sự cân bằng, tuần hoàn của cuộc sống. Như vậy rắn mang tầm biểu tượng cho vũ trụ và sự sống. Có thể vì lý do này mà rắn được “thiêng hóa” nhất trong sử thi.

Trong “Mahabharata” - theo một nghiên cứu, rắn được so sánh với nhân vật anh hùng, số lần chỉ đứng sau voi (16 lần), sư tử (15 lần), rắn (13 lần). Là thể loại có nội dung ca ngợi, tôn vinh nên sử thi thường mượn các hình tượng mãnh thú để làm nổi bật phẩm chất các tráng sĩ. Như trong “Trường ca Đam San” của ta: “Đam San trông dẻo như con rắn trong hang...”. Người anh hùng Rama trong “Ramayana” được miêu tả: “Hùng mạnh như vua loài rắn” với “đôi cánh tay dài như thân mình rắn”... Trong “Mahabharata” thì: “Khác gì rắn độc đang điên máu, Bhima và Karna biểu lộ cơn thịnh nộ tột đỉnh”; “Mũi tên của Karna khạc lửa lao vút vào Arjuna như con rắn hai miệng phun lửa”. Đáng chú ý, sự thánh thiện trong sáng cũng được so sánh với rắn: “Từ trán vọt ra một dòng ánh sáng như một con rắn bạc, và ánh sáng đó xuyên sâu vào biển cả”...

Do Thái giáo quan niệm rắn là quỷ (Satan) cám dỗ con người ăn trái cây “biết lành biết dữ”. Thần thoại Gilgamesh xứ Sumerian kể vua Utnapishtim tìm được một loài cây trường sinh, chưa kịp ăn quả đã có một con rắn đánh cắp cây quý. Tích này tiếp biến vào Kitô giáo kết thành sự tích Satan hóa thân vào rắn đến cám dỗ Eva nên loài người mất cơ hội bất tử.

Rắn trong đạo Phật được “thiêng hóa” gần như tuyệt đối. Khi hoàng hậu Maya sinh thái tử Tất Đạt Đa tại vườn Lâm Tỳ Ni thì được vua rắn Naga 9 đầu phun nước tắm... Naga có nghĩa là rắn hổ mang chúa, có nguồn gốc từ Hindu giáo với quan niệm rắn Naga là linh hồn của thiên nhiên, bảo vệ các nguồn nước sông, suối, mạch ngầm, giúp mùa màng tốt tươi, tiêu diệt, hủy bỏ mọi tội ác. Thế nên, linh vật Naga là biểu trưng cho sự thịnh vượng, còn mang ý nghĩa là sự kết nối giữa cõi nhân gian và thiên giới.

Năm 1959, tại Tân Cương, Trung Quốc, giới khảo cổ phát hiện điều đặc biệt trong ngôi mộ cổ Astana ở Turpan: một bức tranh lụa có hình Phục Hy và Nữ Oa đầu người mình rắn, xoắn vào nhau theo hình ốc. Bức tranh cho phép hiểu: người xưa đã gần như đồng nhất rắn là thần thánh. Mà, trong thần thoại Trung Quốc, Phục Hy và Nữ Oa là tổ tiên của loài người, cũng là những vị tổ khai mở văn minh nhân loại.

Phục Hy biên soạn niên giám (thông tin thời tiết, thời vụ nông nghiệp, thủy triều...), lập ra “bát quái” - bộ chìa khóa giải mã sự vận hành của vũ trụ và con người. Nữ Oa không chỉ sinh ra mà còn dạy cho con người những kỹ năng sinh tồn... Liệu có thể coi rắn là vật tổ của người Trung Hoa? Lại có tích Hán Cao tổ Lưu Bang chém rắn trắng dựng cơ đồ... Tức rắn là biểu tượng cho những gì trở ngại, khó khăn, nguy hiểm...?

capture.jpg -0
Rắn trong điêu khắc đình chùa Việt.

Nhưng, dễ đồng ý rắn là “vật tổ” của ngành y và dược. Thời cổ đại, thấy hiện tượng lột xác nên con người lầm tưởng rắn trường sinh. Thế là nhân loại mượn rắn để vinh danh nghề thầy thuốc tạo ra sự bất tử. Trong truyền thuyết Hy Lạp, thần chữa bệnh Asklepios được biểu tượng là rắn. Từ đó đến nay, hình tượng con rắn quấn trên chiếc gậy là biểu hiệu của ngành y. Con rắn quấn trên chiếc ly có chân, đầu hướng vào miệng ly, là biểu hiệu của ngành dược.

Ở nước ta, căn cứ vào chùm thần thoại Lạc Việt, một vài ý kiến cho rằng rắn là vật tổ, với lập luận biểu tượng rồng là sự kết hợp rắn và cá sấu tạo thành. Thời tiền sử, “rồng” và “rắn” có thể có chung nguồn gốc (vẫn còn trong thành ngữ “Rồng rắn lên mây”). Lại thêm nhiều truyền thuyết kể rắn là con nuôi, là mẹ, là vợ, là chồng của người.

Huyền tích kể thần Linh Lang Đại Vương (ở đền Voi Phục, Cầu Giấy, Hà Nội) là một con rắn lớn... Nhưng, theo học giả Đào Duy Anh, loài chim Lạc mới là vật tổ. Những vấn đề trên cần được bàn luận sâu, kỹ thêm, đối chiếu với văn học dân gian, rắn thường là hình tượng thiên về tiêu cực, mặt trái, có thể ý kiến của Đào Duy Anh dễ được chấp nhận hơn chăng? Nhưng, trong tín ngưỡng thờ cúng người Việt, nhất là tín ngưỡng thờ Mẫu, rắn vẫn là “vật linh” chiếm vị trí quan trọng, thiêng liêng.

Hình tượng rắn Naga từ Hindu giáo tiếp biến vào Phật giáo rồi truyền sang Phật giáo ở Lào, Campuchia và Nam tông ở ta (các chùa Khmer Nam bộ). Trong vùng “tam giác văn hóa” này, hình Naga cuộn tròn lấy cái gốc là trục thế gian, biểu trưng cho sự sinh thành, phát triển và hủy diệt, nâng đỡ để ổn định thế giới. Rắn Naga có 3 đầu (tượng trưng cho thiên-địa-nhân), 5 đầu (tức kim, mộc, thủy, thổ, hỏa), 6 đầu (biểu trưng cho phái nữ, thể xác và sự chết chóc), 7 đầu (đắc đạo)...

Là những cư dân nông nghiệp sống trong môi trường nhiều rừng rú, lắm sông ngòi, độ ẩm cao, phù hợp với môi trường của rắn, trong tín ngưỡng người Lào cổ thì Naga là vật tổ. Dù có đi xa đến đâu, người Lào cũng đều coi mình “là con cháu của Naga”. Người dân Campuchia tin rằng Vương quốc Khmer do vật tổ vua rắn sáng lập, nên con đường dẫn đến ngôi đền chính tại Angkor Wat được khảm, tạc nhiều hình Naga 7 đầu trên tường đá.

Các cứ liệu trên cho phép một dự đoán năm 2025 này là một năm may mắn, an lành. Sẽ mưa thuận gió hòa, thái bình an lạc, thuận cho những công việc lớn, nhất là hôn nhân. Trong lịch sử thế giới, nhiều nhà chính trị, ngoại giao, nghệ sĩ... nổi tiếng cầm tinh Ất Tỵ!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).