Rằm tháng Bảy – Đạo hiếu và tình người!

Bản sắc văn hoá Việt Nam thật độc đáo với hai ngày Lễ trọng là Mùng Mười tháng Ba, ngày Giỗ vua Hùng và ngày Rằm tháng Bảy, ngày cúng những cô hồn. Nói độc đáo vì trên thế giới duy nhất Việt Nam có ngày Giỗ Tổ. Còn cúng các cô hồn thì có ở nhiều nước nhưng không phổ biến ở cấp độ quốc gia, không phổ quát với mọi người dân như Việt Nam. 

Cụ Nguyễn Du trong thiên kiệt tác “Văn tế thập loại chúng sinh” có những câu thật cảm động: “Trong trường dạ tối tăm trời đất/ Có khôn thiêng phảng phất u minh…/ Thương thay thập loại chúng sinh/ Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người/ Sống đã chịu nhiều bề phiền não/ Thác lại nhờ hớp cháo lá đa…”.

Cụ viết để cúng vong hồn những người chết cô đơn, vất vưởng, lang thang. Lời văn tế là lời của tình thương con người sâu sắc, thấm thía đã trở thành phổ biến cho mọi người dân đọc trong ngày Rằm tháng Bảy, ngày xá tội vong nhân.

Ngày này quan trọng đến mức có câu “Cúng cả năm không bằng ngày Rằm tháng Bảy”, chứng tỏ tín ngưỡng văn hoá người Việt rất coi trọng, kính trọng con người, kể cả những người cô độc, bất tài, hèn mọn, nghèo đói, khổ sở... Coi trọng, kính trọng cả khi họ sống lẫn khi họ chết. Không có ngày giỗ riêng cho từng người nên dân gian lấy một ngày chung, ngày Rằm tháng Bảy. Ngày đó trở thành ngày thiêng…!!!    

Bản sắc văn hoá Việt Nam thật độc đáo với hai ngày Lễ trọng là Mùng Mười tháng Ba, ngày Giỗ vua Hùng và ngày Rằm tháng Bảy, ngày cúng những cô hồn. Nói độc đáo vì trên thế giới duy nhất Việt Nam có ngày Giỗ Tổ. Còn cúng các cô hồn thì có ở nhiều nước nhưng không phổ biến ở cấp độ quốc gia, không phổ quát với mọi người dân như Việt Nam. 

Đại lễ Vu lan báo hiếu.
Đại lễ Vu lan báo hiếu.

Ngày Rằm tháng Bảy còn là ngày Lễ Vu Lan, lễ của Nhà Phật, nên Cụ Nguyễn Du mới viết: “Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo/ Của có khi bát cháo nén nhang/ Gọi là manh áo thoi vàng/ Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên/ Ai đến đây dưới trên ngồi lại/ Của làm duyên chớ ngại bấy nhiêu/ Phép thiêng biến ít thành nhiều/ Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sinh”. Hai Lễ cùng trong một ngày, gần gũi nhau về ý nghĩa chứ không phải là một.

Tại sao lại gọi là ngày “xá tội vong nhân”? Nghĩa là ngày các âm hồn cõi âm được tha (xá = tha) tội. Những âm hồn được thờ phụng thì về nhà hưởng lộc gia tiên do con cháu cúng lễ. Những cô hồn không nơi thờ cúng thì lang thang trên dương thế xin ăn. Hết ngày này các âm hồn phải trở về cõi âm. Vì thế các gia đình trên dương gian phải làm lễ cúng gia tiên (trong nhà) và làm lễ cúng các cô hồn xin ăn (ngoài sân, ngoài ngõ hoặc ngoài đường cái quan).

Lễ vật cúng gia tiên thì như mọi lần, nhưng cúng chúng sinh cô hồn thì đơn giản chỉ là bánh đa, bánh bỏng, ngô, khoai, xôi chè, trứng luộc và thường có cháo hoa. Thành ngữ có câu “Miếng cháo cầm hơi” là nói tới miếng ăn của những người cùng đường, đói khổ. Cháo hoa là món ăn giản dị, đơn sơ nhất của cư dân nông nghiệp lúa nước, cũng là món ăn quen thuộc của người nghèo được nấu bằng gạo và muối trắng. Đồ cúng kèm theo có tiền âm phủ, quần áo cắt bằng giấy…được bày lên những chiếc mẹt (hình tròn đan bằng tre nứa). Cháo được cho vào lá đa hoặc lá mít cuộn thành hình bồ đài.

Tại sao lại cho cháo vào lá đa?

Cây đa trong tín ngưỡng người Việt là cây thiêng được nâng lên mức biểu trưng cho làng quê Việt: cây đa, bến nước, sân đình. Cây đa rất to, cường tráng, bền vững, trường tồn cùng với làng quê, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cây luôn vươn cao toả cành lá rộng dài che bóng mát cả một không gian rộng. Đặc biệt lá đa xanh bốn mùa, không thay lá nên gốc cây luôn sạch sẽ. Cây cũng rất cao, cao đến mức người xưa tưởng tượng nó nối đất và trời (người đời sau khái quát ý niệm này thành hình tượng cây vũ trụ).

Ngày xưa làng nào cũng có cây đa được trồng ở cửa đình hoặc đầu làng trở thành nơi tụ họp, quây quần của dân làng. Nó gần gũi đến mức trở thành linh thiêng: “Thần cây đa, ma cây gạo” (cây gạo thường mọc đơn lẻ ở nghĩa trang).

Người ta quý đến mức nâng hình tượng thành huyền thoại bất tử. Trong truyện cổ về thằng Cuội thì đa là cây thuốc quý, vợ thằng Cuội phóng uế vào gốc nên nó bay lên trời sống vĩnh viễn trên cung trăng…Cúng bằng lá đa vừa thể hiện tình cảm gần gũi vừa kính trọng những cô hồn lang thang cơ nhỡ.

Tại sao lại đựng cháo bằng lá mít?

Trong tín ngưỡng người Việt cây mít cũng là cây thiêng. Là cây lưu niên (sống lâu) thân to, vững chãi, cành lá sum suê, quả sai lúc lỉu, rất thơm… Cây mít được trồng xung quanh nhà để tránh gió, tránh nắng, tránh bão, còn để hứng nước mưa…

Gỗ mít rất quý, nhẹ, mịn, chịu nước, không cong vênh. Vì thế hình tượng cây mít thường gợi liên tưởng về sự giàu có, bề thế, phúc lộc, an khang…Thành ngữ có câu “Nhà ngói cây mít” để chỉ những nhà ai giàu có, sang trọng, phú quý cũng là thể hiện sự ước ao được giàu có no đủ của người dân thường… Cũng vì thế mà người Việt thường lấy gỗ mít làm tang trống và đồ thờ. Đặc biệt gỗ mít thường dùng trong việc chế tác tượng Phật.

Cảnh Mục Kiền Liên cứu mẹ.
Cảnh Mục Kiền Liên cứu mẹ.

Của cho không bằng cách cho. Có thể của cho là cháo hoa, thứ vật chất thông thường, tầm thường (trong truyện cổ tích “Tấm Cám”, cô Tấm gọi Bống: “Lên ăn cơm  vàng cơm bạc nhà ta/ Chớ ăn cơm hẩm, cháo hoa nhà người”) nhưng cách cho (đựng trong lá cây thiêng) thì thật đáng quý, rất mực tôn trọng. Đó chẳng phải là một triết lý về trân trọng, kính trọng con người đó sao!? Trong trường ý nghĩa này ta thấy người Việt có câu tục ngữ thật hay: “Người ta là hoa đất”!

Tâm lý, tính cách người Việt, tư tưởng Phật giáo và Nho giáo cùng gặp gỡ ở chỗ coi trọng chữ Hiếu. Điều này góp phần lý giải các luồng tư tưởng triết học ảnh hưởng vào Việt Nam phù hợp với tính cách bản địa nên dung hoà lẫn nhau mà hiện tượng Tam giáo đồng nguyên là rất tiêu biểu.

Một trong những yếu tố tích cực của Nho giáo là coi chữ Hiếu như một giá trị đạo đức hàng đầu, “bách hạnh dĩ hiếu vi tiên” (trong trăm đức thì lấy hiếu làm đầu). Theo lối chiết tự thì chữ Hiếu có hai bộ, gồm bộ “lão” chỉ người già ở phần trên và bộ “tử”, chỉ con cái ở phía dưới. Hàm ý tượng hình của chữ “hiếu” là chỉ hình ảnh một người con cõng cha (mẹ) già.

Trong quan niệm về đạo làm người của người Việt thì chữ Hiếu đóng vai trò nền tảng: “Công Cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra/ Một lòng thờ Mẹ kính Cha/ Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con”.

Quan niệm này phù hợp với quan niệm của Phật giáo cũng rất coi trọng chữ Hiếu đã được đề cập một cách khá toàn diện, hệ thống, trở thành một nội dung căn bản của Phật pháp. Theo luật nhân quả thì người nào có nhân Hiếu sẽ nhận được quả Hiếu và ngược lại: “Nếu mình hiếu với mẹ cha/ Thì con cũng Hiếu với ta khác gì/ Nếu mình ăn ở vô nghì/ Đừng mong con Hiếu làm gì hoài công”. Phật cũng dạy kẻ nào ngược đãi cha mẹ thì chết sẽ bị đày xuống âm ty chịu cho quỷ dữ cắn xé. Trong Kinh Vu lan - bồn Phật ca ngợi đức Hiếu của Mục Kiền Liên cứu mẹ thoát khỏi cảnh giới u minh.

Truyện thơ Nôm của người Việt có tên “Mục Liên Thanh Đề” là sự minh hoạ bằng cách thơ hoá cho câu chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ trong Kinh Phật. Truyện rằng La Bốc mê đạo Phật nhưng người mẹ là Thanh Đề thì ngược lại. Bà ta lấy thịt chó làm nhân bánh rồi mời các sư.

Các sư biết bèn mang bánh đổ ở gốc cây, bánh hoá thành hành, hẹ, húng dổi (nên từ đó cúng Phật không bao giờ được có những thứ này). Con chó bị Thanh Đề giết xuống âm phủ kiện. Diêm Vương cho bắt Thanh Đề chịu trọng tội. La Bốc sang Tây phương cầu Phật. Phật đổi tên La Bốc thành Mục Liên, cho quy y, ban sắc Phật rồi cho xuống âm phủ tìm mẹ. Nội dung truyện minh hoạ giáo lý nhà Phật, miêu tả sinh động chốn âm phủ nơi con người chịu tội. Đó cũng là cách giáo dục con người ta khi sống phải thật thà, chân thành, không sát sinh…

Theo Nhà Phật thì ngày lễ Vu Lan là ngày lễ báo hiếu mẹ cha!

Tại sao có sự nhầm lẫn hai Lễ này là một? Vì chung một bản chất là niềm yêu thương kính trọng con người để rồi trở thành triết lý nhân văn phổ quát: yêu mẹ cha ta cũng như yêu mẹ cha người. Ông bà tổ tiên ta đầm ấp sum họp cùng gia đình, ta phải thương những cô hồn vất vưởng.

Đấy chính là biểu hiện “Tứ vô lượng tâm” của Nhà Phật: Từ, Bi, Hỷ, Xả. Đó là Tâm Từ có khả năng hiến tặng niềm vui, hạnh phúc cho người khác. Là Tâm Bi có khả năng làm vơi đi và chuyển hoá nỗi khổ. Là Tâm Hỷ từ tình thương đích thực sẽ đem đến niềm vui tới người khác. Là Tâm Xả đem lại sự nhẹ nhõm, thư thái, khoan hoà. “Tứ vô lượng tâm” hiểu một cách khái quát cô đọng nhất là tình thương vô hạn.

Cây Phật giáo được gieo trồng rồi cắm rễ rất sâu vào mảnh đất tình thương người Việt đã kết bao trái thơm đạo lý, mà ngày Rằm tháng Bảy là một trong những trái thơm ấy!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân đã dành thời gian hơn một năm để biên soạn cuốn sách chuyên khảo công phu có tên gọi “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết”. Tác phẩm có dung lượng 600 trang với nhiều thông tin bổ ích này vừa được Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành.