Quái lạ - nét thi pháp của văn xuôi trung đại!

Bản thân khái niệm "nghệ thuật" đã có nét nghĩa trên mức thông thường. Có đại văn hào nói sự bình thường sẽ giết chết nghệ thuật là theo cái ý ấy. Xin được chứng minh một số sử ký, truyền kỳ thời trung đại thường kiến tạo những sự quái lạ để nói về cái ngược đời của nhân vật, sự kiện.

"Đại Việt sử lược" (viết vào thời Trần, tác giả khuyết danh) miêu tả ông vua Lê Ngoạ Triều với các chi tiết rất lạ như vua sai giết người bằng cách quấn rơm vào tội nhân rồi thiêu, dùng dao cùn để mổ cho lâu chết. Những chuyện quái đản thật khó tin về sự phi nhân tính: bắt tội nhân trèo lên cây cao, rồi sai chặt cây cho đổ xuống để tội nhân chết trong hoảng loạn. Còn sai dắt trâu bò đến để vua tự tay đâm chết. Lại có những chi tiết rùng rợn như đang đêm khuya vua sai giết mèo làm cỗ mời quần thần ăn. Cỗ bàn ăn xong vua bèn giơ đầu mèo lên cho mọi người biết họ đã ăn gì. Tất cả sợ hãi đến mức nôn mửa, còn vua thì cười đắc chí… Đó là nguyên tắc xây dựng nhân vật theo lối "quỷ hóa".

Quái lạ - nét thi pháp của văn xuôi trung đại! -1

Không phải là "vua" mà là "quỷ". "Quỷ" thích xem giết và trực tiếp giết với những kiểu kỳ lạ, tàn bạo. "Quỷ" vui khi thấy người chết ở trạng thái đau đớn nhất. "Quỷ" thích hại người. "Quỷ" thích tự tay đâm chết sinh linh, thích dọa người bằng những trò "quỷ quái"… Chỉ nguyên tắc này mới tương ứng với tình huống "lộn ngược": vua lộn ngược thành quỷ dữ. Vì thế chi tiết nào cũng ngược đời: quấn rơm đốt người; dùng dao cùn mổ người cho lâu chết; tự tay giết trâu bò; cho quần thần ăn thịt mèo rồi doạ… Tự thân những chi tiết ấy đã bật ra một ý nghĩa: một chế độ có vua "quỷ" như thế tất yếu sẽ bại vong một cách thảm hại nhất. Lịch sử diễn ra đúng như vậy!

Tác giả "Việt sử lược" (một phiên bản của "Đại Việt sử lược") lại chú ý đến tình huống ngược đời. Miêu tả sự kiện năm 1148 với các mối quan hệ mờ ám phức tạp: Thái úy Anh Vũ tư thông Thái hậu nên bị phò mã Dương Tự Minh và Điện tiền Vũ Đái bắt trói. Thái hậu hối lộ Vũ Đái tha cho Anh Vũ. Tự Minh can Vũ Đái không được bèn tự tử. Quả nhiên về sau Anh Vũ tráo trở, tàn nhẫn đến mức giết hết những người đã bắt hắn và đã cứu hắn, kể cả Vũ Đái. Thế là Vũ Đái vì tham của mà chết, còn bọn Anh Vũ, Thái hậu thì một kẻ là đại quan, một kẻ là mẹ vua lẽ ra phải mực thước mà lại dâm loạn làm ô uế nơi cung cấm trang nghiêm. Tội này phải chết thế nhưng bọn chúng vẫn nhơn nhơn sống.

Cùng sự kiện, sau này "Đại Việt sử ký toàn thư" (viết xong năm 1272) sử gia Lê Văn Hưu không chú ý vào miêu tả mà dùng lời bình luận mỉa mai để lên án: "Anh Vũ tư thông với mẫu hậu, không tội gì to bằng. Bọn Vũ Đái nên tâu bày gian trạng rồi bắt giam vào ngục mà giết đi. Đến khi bắt được Anh Vũ, lại nhận vàng của Thái hậu, rốt cuộc bị Anh Vũ giết, liên lụy đến mấy mươi người, thế là nuôi hổ để họa về sau vậy"...

"Việt sử lược" chú ý đến các chi tiết sự kiện thời vua Anh Tông mang tính trắng trợn, thâm hiểm, tàn bạo quá mức. Viên quan Quốc Dĩ hiến kế đặt cái án (hòm bằng đồng tương tự hòm thư góp ý hiện nay) để thu nhận những văn thư, sớ tấu các nơi. Có một thư nặc danh tố cáo "Anh Vũ sắp khởi binh làm loạn". Không tìm ra người gửi, Thái úy Anh Vũ bèn tâu với vua: "Chắc là người bày lập ra cái án". Không cần suy nghĩ vua sai bắt Quốc Dĩ trị tội vu cáo. Anh Vũ sai người đem rượu độc đến bắt Quốc Dĩ phải chết. Thế là kẻ đểu cáng, xấu xa thì vẫn làm quan to để tác oai tác quái còn người tốt với những mong muốn tốt và việc làm tốt thì bị hại. Toát ra một ý nghĩa phổ quát chung cho mọi thời: phải cảnh giác với kẻ xấu nham hiểm, lọc lõi, độc ác... Nhất là bọn này lại có quyền lực thì càng nguy hiểm vô cùng.

Thói dâm sắc đi ngược lại đạo đức truyền thống nên đều bị hầu hết các cuốn sử lên án. Thái tử Long Sưởng con đầu vua Anh Tông nhưng bị vua phế mà lập Long Cán con thứ làm Thái tử. Lý do vì Long Sưởng có tính hiếu sắc đến mức cung phi nào được vua yêu quí, Long Sưởng cũng đều tư thông cả. Bà Nguyên phi Từ Thị được vua yêu, Hoàng hậu ghen, nghĩ ra kế "ly gián" bằng cách sai Long Sưởng lén lút đến tư tình… Một tình huống này nói lên mấy cái ngược đời: Thái tử "tư tình" với cung phi của vua cha là loạn luân; vua lập con thứ làm Thái tử là loạn phép tắc; Hoàng hậu sai con "tư thông" với "Nguyên phi" (gần như là vợ vua) thì cả Hoàng hậu và Thái tử đều hèn kém.

Quái lạ - nét thi pháp của văn xuôi trung đại! -0
Vua Lê Ngọa Triều - hình minh họa.

"Việt sử lược" thường tập trung lật tẩy sự dốt nát ngược đời của vua. Năm 1206 nước bị loạn mà vua Cao Tông (lên ngôi 1175) vẫn ăn chơi vô độ. Năm ấy trời hạn vua bảo tả hữu rằng ai làm nước sông dâng lên chảy tràn vào trong hồ sẽ được hậu thưởng. Là vua mà lại có sự nhận thức quá kém cỏi. Thế mà có kẻ nịnh thần thưa xin làm việc ấy, vua cũng cho làm. Tất nhiên là không bao giờ được. Tự xưng "Thiên tử" thay trời chăm sóc muôn dân" thế mà khi đi chơi, nghe ngoài thành có kẻ kêu la vì bị cướp, vua cứ giả vờ không nghe thấy. Là "người đứng đầu thiên hạ" mà nhát hơn trẻ con, mỗi khi có tiếng sấm vua rất sợ chỉ tìm cách chui xuống dưới hầm đã đào sẵn…

Ngoài sự phơi bày cái mặt trái của triều đình đã ở vào thời mạt vận, các cuốn sử còn vạch trần cái nhố nhăng của những kẻ khoác áo nhà sư để lòe bịp thiên hạ. Xã hội thời Lý đạo Phật thịnh trị ảnh hưởng tới triều chính, chi phối đến cả vua. "Việt sử lược" kể câu chuyện sư "giáng hổ" vạch trần bản chất giả dối của những kẻ được gọi là "hòa thượng" nhưng bất tài, khoác loác, vô tích sự.

Nhà sư nọ khoe với vua (Cao Tông) "biết giáng hổ", tức hàng phục hổ từ dữ thành hiền lành. Vua cho thử. Lần đầu sư cầm gậy gõ đầu hổ, hổ vùng dậy vồ lấy gậy. Sư hoảng hốt lui ra tâu vua xin để tụng niệm cầu Phật thêm nữa. Lần sau sư tiếp tục. Hổ nhảy chồm lên vồ. Sư sợ hãi, lùi lại, đứng tựa vào chuồng sợ quá mà chết. Đúng là chuyện ngược đời. Nhìn từ hôm nay thì đó là chuyện phản khoa học. Nhà sư thì biết "tụng kinh niệm Phật" chứ đâu phải "thần thánh" gì, càng không thể biết đến bản chất sinh học loài hổ là không thể thay đổi. Vua cũng ngược đời ở chỗ cần lo những việc đại sự quốc kế dân sinh nhưng lại đi nghe lời một kẻ khoác loác…

"Tam tổ thực lục" là tập sách ghi chép theo lối ký sự tiểu sử ba vị tổ sư thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần là Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang. Tác giả bộ sách vẫn thuộc diện tồn nghi, sau này các thiền sư (Tính Quảng và Hải Lượng) dựa vào các tư liệu xưa rồi biên soạn và cho khắc bản in vào năm Cảnh Hưng 26 (1765).

Trong sách kể câu chuyện có tình huống thử thách rất đáng chú ý. Nhà vua (Minh Tông) cho gọi Điểm Bích - một cung phi "nõn nà chẳng kém gì Phi Yến, khéo léo còn hơn cả Điêu Thuyền… Lại có tính hiếu học, tam giáo cửu lưu, không thứ gì là không thông hiểu, hễ mở miệng là thành chương" yêu cầu đến gặp sư Huyền Quang. Vua nói: "Ông sư ấy vốn không có sắc dục, tính nết cương phương, giới hạnh rất cao. Nàng có nhan sắc, giỏi ngôn từ, lại thông kinh sử. Nàng hãy đến "thử thách", nếu thấy động tình quyến luyến thì dỗ dành xin được vàng mang về đây làm chứng cớ".

Vâng lời, Điểm Bích tìm mọi cách "lá gió cành chim" lả lơi quyến rũ nhưng không lay chuyển được bèn bịa ra chuyện cần tiền cứu cha làm quan thu thuế đem nộp vào kinh nhưng bị mất trộm hết. Huyền Quang thương tình cho "một dật vàng"… Việc được phanh phui, vua hối hận bèn lập đàn tràng thỉnh Huyền Quang làm chủ lễ "hóa giải". Sư (Huyền Quang) vừa đến thì gió trời nổi mù mịt, mọi tạp vật trên đàn đều bị cuốn phăng, chỉ còn lại hương đăng lục cúng. Vua và triều thần tận mắt chứng kiến, thất sắc kinh hoàng, liền lạy xuống tạ tội…

Đường đường một "hoàng thượng" thay trời hành đạo thế mà vua lại có "kế" nhỏ nhen. Điểm Bích là cung phi lẽ ra phải chính trực mà lại làm chuyện bịa đặt… Câu chuyện mang tính đề cao ca ngợi phẩm tính trong sạch, liêm chính của nhà Phật. Sau này sách "Tân đính Lĩnh Nam chích quái" chép lại chuyện này, đổi tên nhân vật từ Điểm Bích thành Vân Bích nhưng ý nghĩa thì không thay đổi.

Văn học là những mô hình về đời sống. Những chi tiết quái lạ để tạo ra những mô hình lộn ngược, ngoài sự mời gọi, hấp dẫn, cái chính là thể hiện bản chất phi lý của sự kiện, hiện tượng!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).