Qua các giải thưởng văn chương gần đây: Vì sao thơ "mất mùa"?

Năm 2017 đi qua, có dư luận cho rằng thi ca đang “mất mùa” vì Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm nay không có thơ; Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội không trao cho thơ và Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh cũng không trao giải thưởng chính thức cho thơ (chỉ có tặng thưởng cho mấy tập thơ, nhưng sau đó có tập lại bị kiện vì có dấu hiệu “đạo thơ”).

Có một thực tế ai cũng nhận ra trong tình trạng xuất bản thơ những năm gần đây, thơ hay quá ít mà thơ dở lại quá nhiều. Trong khi đó, số người làm đơn xin gia nhập Hội Nhà văn ở Trung ương và các tỉnh, thành phố lớn ngày một đông đảo.

Có thể nói, người làm thơ hôm nay quá nhiều, việc in thơ ở các nhà xuất bản đang trong tình trạng “lạm phát thơ dở”, “bùng nổ thơ dở” nên thơ không bán được và chủ yếu thơ in ra là để giao đãi, để tặng nhau. Có người đã nói vui, thi ca đương đại hôm nay đang ở tình trạng bi hài dở cười, dở khóc “Người người làm thơ/ Nhà nhà in thơ/ Ta nhất định thắng/ Thơ nhất định thua”.

Cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XXI, có nhiều ý kiến cho rằng, dường như một thế kỷ “vàng son” của thi ca Việt Nam đã đi qua, và rằng thời đại của thi ca đã dần tắt trước sự “xâm lăng” của các loại hình văn hoá mới, trước thời đại văn minh hội nhập toàn cầu của công nghệ thông tin và các phương tiện nghe - nhìn. Có lý lắm, khi cộng đồng văn hóa Việt hôm nay không mấy người chú ý đến thơ đương đại và sự phát triển lặng lẽ của nó trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam trong hai thập kỷ gần đây.

Phải chăng tình yêu thơ ca không còn đất sống trong tâm hồn con người hiện đại, khi “cơn lốc” của đời sống công nghiệp, đời sống đô thị và cái gọi là lối “sống gấp” đang nghiền thời - gian - sống của chúng ta thành từng mảnh vụn? Đã có lúc tôi tự hỏi: “Thơ cần cho ai - cần cho mọi người hay chỉ cần cho riêng ta?”.

Nếu nói thơ cần cho mọi người thì đấy là một điều không thực tế, vì số đông hôm nay không đọc thơ (cũng không phải vì không đọc thơ mà đời sống tinh thần của họ nghèo nàn). Trong cộng đồng văn hóa Việt hôm nay chỉ có một thiểu số còn đọc thơ (đa phần là học sinh, sinh viên và người làm thơ đọc thơ của nhau). Vậy thơ sống thế nào trong thời đại “kỹ thuật số”, trong thời “điện tử hoá” đang rút dần đất sống của thơ?

Có thể nói, sự xuất hiện của các cây bút trong những năm gần đây đã làm cho diễn đàn thơ trẻ có thêm một luồng sinh khí mới. Bước đầu, những tác giả trẻ này với bút pháp tìm tòi đang thể hiện một khuynh hướng mới trong thi ca. Nhưng liệu khuynh hướng tìm tòi này có thể trở thành một trào lưu, một phong cách mới ghi được dấu ấn riêng trong sự phát triển của thơ Việt Nam đương đại hay không thì vấn đề ấy vẫn đang là một câu hỏi chưa có lời giải. Tôi có cảm giác, một số tác giả thơ trẻ hiện nay đang coi trọng, đang đề cao việc tìm kiếm “cái lạ” và tìm cách biểu đạt “cái người khác chưa dám nói tới hoặc né tránh” trong thi ca nhiều hơn là việc tìm tòi, xây dựng một hệ thống thi pháp mới có khám phá về mặt nghệ thuật để làm giàu có cho ngôn ngữ thơ Việt.

Có ý kiến cho rằng, phải chăng với họ, thơ “cần phải lạ” chứ không “cần phải hay”? Có một thực tế, nhiều bài thơ tìm tòi của một số cây bút trẻ hiện nay không nhận được sự hưởng ứng đồng thuận của nhiều người trong giới văn chương chứ chưa nói tới độc giả thơ. Nhưng không vì thế mà chúng ta không ghi nhận những dấu hiệu “biến đổi” mới mẻ này ở nhiều tác giả trẻ, nó cho thấy nền văn học đương đại của chúng ta đang có những chuyển động, đang khai mở cho một giai đoạn mới của thi ca.

Quang cảnh buổi Hội thảo Thơ và những vấn đề của thơ đương đại do Hội nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 27/2/2018.
Quang cảnh buổi Hội thảo Thơ và những vấn đề của thơ đương đại do Hội nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 27/2/2018.

Các tác giả trẻ này thường trình bày khá sinh động, khá đa dạng cái tôi-hiện-đại của mình trong một cuộc chơi nhằm đổi mới ngôn ngữ thơ, nó mang hơi thở buồn vui của đời sống đô thị hôm nay. Một số cây bút trẻ không chú ý tới việc xây dựng tứ thơ, vì thế các bài thơ của họ mang một cấu - trúc - lỏng, nó mới chỉ dừng lại ở một mức biểu đạt thông thường của ngôn ngữ nhằm chuyển tải một nỗi niềm, một tâm sự, một ghi nhận, một khắc họa đời sống…

Và khi ấy, bài thơ chỉ là một tập hợp của những mảnh vụn đời sống được mô tả, được sắp đặt bằng những con chữ mà đáng lẽ ra nó phải được nhà thơ kiến tạo và xác lập bằng một ý tưởng mới, một cấu trúc mới mang lại cho bài thơ một đời sống một tư duy cao hơn cái đời sống tầm thường đang diễn ra mỗi ngày.

Một cái - tôi - đặc - trưng của thơ trẻ hiện nay là cái tôi gai góc, cái tôi cực đoan, cái tôi xa lạ, cái tôi khác người luôn được thể hiện, được hướng tới, được nhìn nhận, được khẳng định ở nhiều khía cạnh khác nhau trong nhiều bài thơ của họ.

Có một thực tế thơ ca mà chúng ta nhận thấy trong những thập niên cuối của thế kỷ XX vừa qua, người đọc đã quá quen tai với những vần điệu du dương mòn mỏi. Sự lạm phát đến “quá tải”, đến bão hoà của thơ tình (xin nhấn mạnh là loại thơ tình không hay) đã gây cảm giác nhàm chán, làm người đọc thất vọng và làm công chúng quay lưng lại với thơ. Giờ thì tất cả mọi người đều có thể bỏ tiền túi để công bố những tâm sự “nỉ non lai láng” của mình, hoặc những “triết lý vặt” theo kiểu “đánh đố” bằng thơ.

Có lẽ thơ hay không cần phải giải thích, lĩnh hội nhiều, cứ đọc lên là ta thấm ngay được cái phần tâm linh của câu chữ. Thú thật, là một người làm thơ, nhưng tôi rất ngại đọc những bài thơ tình nhạt nhẽo, đọc thấy nhang nhác giống nhau về nỗi niềm, tình ý với những hình ảnh xưa cũ hoặc làm duyên câu chữ với các loại thơ tình vật vã, thơ tình trái ngang, thơ tình cô liêu, thơ tình u uất, thơ tình phá phách đề cao dục vọng thân xác… đua nhau lạm phát các kiểu “tình tang muôn thuở”.

Thứ thơ dễ dãi “đong đưa” này dường như không có sức sống cùng thời gian. Hành trình khắc nghiệt của thơ ca sẽ loại bỏ những thứ thơ đó. Thời gian là thước đo sòng phẳng nhất đối với mọi giá trị sáng tạo. Trong thơ Việt thời gian qua, không ít những bài thơ vui rất giả, rồi buồn cũng rất giả. Ngôn ngữ thơ ấy như một thứ hàng “giả” làm người đọc khó chịu. Phải chăng độc giả của thơ ngày một ít đi cũng bởi lẽ ấy (?).

Thời gian trước đây tôi cho rằng, thơ hay (giống như một tấm gương phản chiếu) là loại thơ soi vào thấy mình, thấy cuộc sống con người hiện lên sinh động với các chiều kích khác nhau ở trong đó, còn thơ dở thì có soi vào mãi cũng không thấy gì. Còn thời gian gần đây tôi lại nhận ra rằng, thơ hay là thứ thơ làm cho người ta phải kinh ngạc và thật sự rung động bởi một ý tưởng mới, một suy tưởng mới, một sức sống mới đang làm nên những dạng thức mới của ngôn ngữ thơ.

Và một trong những tiêu chí của thơ hay là phải làm người đọc ngạc nhiên về tư duy thẩm mỹ mới và hiện đại, để thơ vượt thoát khỏi những khuôn sáo ước lệ của vần điệu và thắp lên những hình tượng thơ mới. Trong mỗi bài thơ hay, không gian thơ được mở rộng hơn, mở sâu hơn, với tới các chiều kích của những suy tưởng lớn mang tính khái quát cao.

Và, trong trường - thẩm - mỹ này, những vấn đề tưởng chừng lớn lao lại được khái quát lên từ những cái rất tầm thường, nhỏ bé của đời sống quê hương máu thịt hằng ngày.

Theo tôi, trong quá trình cách tân thi ca, điều quan trọng là tác giả phải biết cách giữ được đặc thù của ngôn - ngữ -thơ trong chuyển động đổi mới của những con chữ. Đây chính là sự khác biệt giữa một số cây bút cách tân đã nhân danh cái mới để “lạ hoá” thơ đến mức phản - thơ với những tác giả có xu hướng tìm tòi nhằm nâng cao vẻ đẹp của ngôn- ngữ- thơ bằng những ý tưởng mới.

Theo tôi, bản chất của sự cách tân và đổi mới thơ nhiều khi không chỉ nằm ở sự tìm tòi về mặt hình thức nghệ thuật cấu trúc của ngôn ngữ thơ mà điều thiết yếu căn cốt là ở sự đổi mới nội dung đời sống được phản ánh trong thơ. Trong rất nhiều thế kỷ qua, các trường phái thơ lớn trên thế giới qua mỗi thời kỳ đều hướng tới sự tìm tòi và cách tân.

Điều khác biệt (và khu biệt nhất) để có thể nhận ra được các nhà thơ cách tân của mỗi thời đại có gương- mặt- thơ khác nhau như thế nào chính là ở nội dung đời sống trong thơ họ ở thời đại ấy đã được phản ánh, khắc hoạ trong một trường - thẩm - mỹ nào.

Trong thơ trẻ gần đây, đời sống đường phố và nhịp điệu sống đô thị hiện lên khá ngột ngạt và căng thẳng với những nỗi lo âu của con người thời hiện đại. Thơ văn xuôi của họ ít chất thơ nhưng nó chứa đựng những ẩn ức và quẫn bách của một tâm trạng đang tìm lối thoát và sự chia sẻ, khi con người đang trở nên mông muội và ký thác tâm trí mình vào những điều hoang tưởng.

Và trong số những nhà cách tân đầy nhiệt huyết này, ở một số cây bút, nhiều khi phẩm chất tài năng, phẩm chất thi sĩ không theo kịp phẩm chất đổi mới, nên có thể những bài thơ “non lép” của họ mới chỉ dừng lại ở mức có dấu hiệu của sự tìm tòi mà chưa làm nên sự khác biệt của một phong cách thơ mới được khẳng định bởi một tài năng thơ đích thực. Bởi một trong những thể hiện rõ nét nhất của phẩm chất thi sĩ chính là cách tìm tòi về mặt ngôn ngữ và cách xử lý câu chữ theo một phong cách riêng để tạo nên một tứ thơ mới cho mỗi bài thơ, và cái mới trong thơ nhiều khi không cần đến sự trình diễn cầu kỳ bằng một hình tượng lạ, một cấu trúc lạ, một biểu đạt lạ mà điều nó hướng tới phải là một phát hiện mới về tính suy tưởng của thơ.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.