Phù sa văn hóa!

Herodotos (khoảng 484 - 425 TCN), người Hy Lạp, được coi là “cha đẻ của môn sử học” của văn hóa phương Tây, từng có nhận xét nổi tiếng: “Ai Cập là món quà của sông Nile”. Ý nói không có phù sa của sông Nile thì không có Ai Cập - một trong những cái nôi của văn minh nhân loại.

Sau này nhiều thi nhân ca ngợi đất nước màu mỡ Ai Cập như “da thịt của nữ thần đất”. Dòng sông Nile như là “hơi thở của thần linh” vỗ về mảnh đất thêm phì nhiêu... “Sử thi Gilgamesh”, thiên anh hùng ca Lưỡng Hà - một trong những tác phẩm văn học cổ nhất kể, sau cơn đại hồng thủy, khi nước rút, lớp phù sa trải rộng khắp đồng bằng Tigris và Euphrates (tức vùng Lưỡng Hà - Mesopotamia) làm nên cuộc tái sinh vũ trụ, tạo ra một thế giới sáng láng, tinh khôi, mới mẻ.

image001.jpg -0
Bình minh trên sông Hằng.

Trong tác phẩm “River God” (Thần Sông) của Wilbur Smith lấy bối cảnh Ai Cập cổ, viết về “nhân vật” phù sa như là một “món quà của thần linh”. Qua câu chuyện của một hoạn quan nô lệ tài năng tên là Taita và cuộc chạy trốn cùng với người dân Ai Cập khỏi cuộc xâm lược của bộ tộc Hyksos. Khi nước sông Nile dâng lên, Taita nói: “Thần đã mở lòng, ban cho chúng ta lớp da thịt đen của Mẹ Đất”. Tức coi phù sa là “da thịt” của đất đai cuộc đời. Tác phẩm xuất bản năm 1993, được chuyển thể thành phim, rất ấn tượng.

Chùm thần thoại cổ xưa người Việt kể về “Thần trụ trời”, thuở hỗn mang Thần đã ra công đào đất đắp thành trụ chống trời. Trời đất đã xa nhau. Mặt đất sáng sủa. Thần bèn phá trụ. Nơi thần đào đất thành biển. Nơi thần vãi đất đá ra thành núi đồi. Từ đó, mưa bào mòn đồi núi đem phù sa làm thành những cánh đồng. Thế nên các thi nhân sau này thường viết về dòng sông gắn liền với “phù sa”.

Như trong bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi: “Những cánh đồng thơm ngát/ Những ngả đường bát ngát/ Những dòng sông đỏ nặng phù sa”… Theo nghĩa Hán Việt, “phù” nghĩa là nhẹ, trôi nổi; “sa” nghĩa là cát. Phù sa là các hạt nhỏ, mịn di chuyển theo các dòng nước sông suối, kênh rạch. Đất có chứa phù sa rất tốt cho cây trồng.

Theo khoa học địa chất, phù sa là vật liệu trầm tích được sông suối mang đi, vận chuyển và lắng đọng, nên còn được gọi là trầm tích phù sa. Bản chất và tính chất của phù sa phụ thuộc đất đá bị xói mòn trong quá trình chảy của sông. Phù sa có thể chứa cát, bùn, sỏi, chất hữu cơ, quặng khoáng sản sắt, đồng, vàng, đá quý… “Đãi cát tìm vàng”, thực chất là “đãi phù sa tìm vàng”.

Sông Hằng khởi nguồn từ dãy Himalaya ở bang Uttarakhand, Ấn Độ - nóc nhà của thế giới. Được ví như một vị thần khổng lồ đang say ngủ, dãy núi ẩn mình trong lớp tuyết dày, trắng xóa. Từ đây băng tan chảy ra, hình thành sông Hằng dài 2.510 km uốn lượn qua các thung lũng xanh tươi làm nên các đồng bằng màu mỡ, trước khi đổ vào vịnh Bengal.

Văn minh Ấn Độ cảm ơn sông Hằng, thế giới gọi luôn là “văn minh sông Hằng”. Ngoài là nguồn nước, sông Hằng như là mạch máu giao thông của cơ thể Ấn Độ. Lưu vực sông rộng lớn, tới 907.000 km2 bao trùm phần lớn lãnh thổ phía Bắc Ấn Độ và Bangladesh, đã dùng phù sa bồi đắp hai ven bờ để vùng đất thiêng này trở thành một trong những khu vực màu mỡ và đông dân nhất thế giới.

Theo thần thoại, sông Hằng là hiện thân của nữ thần Ganga - con gái Himavan - vị thần bảo hộ - Mẹ vĩ đại. Theo nghĩa bóng, sông Hằng đã bù đắp phù sa văn hóa để Ấn Độ có nền văn hóa tâm linh huyền bí, giàu có hàm lượng tôn giáo, tín ngưỡng bậc nhất thế giới. Kể rằng, để tránh nạn hạn hán khốc liệt, thần Shiva đã kéo dòng sông từ trên thiên giới cho chảy qua đầu tóc mình rồi đổ xuống trần gian. Thế nên, nói đến Ấn Độ phải nói đến sông Hằng. Dòng sông mang chức năng thanh lọc, tẩy rửa mọi điều xấu. Được uống nước sông là điềm may mắn cho cả người sống và người về với trời cao…

Ở ta, vùng đồng bằng sông Cửu Long được hình thành do phù sa sông Mê Kông bồi đắp trong khoảng 6.000 năm. Các nhà khoa học ví von, như một “băng chuyền” dòng Cửu Long miệt mài ngày đêm vận chuyển phù sa, bùn cát về bồi đắp tạo nên đồng bằng sông Cửu Long. Theo dòng chảy sông Hồng, phù sa tạo nên toàn bộ miền đồng bằng sông Hồng - vùng đồng bằng do phù sa bồi đắp vào loại tốt nhất thế giới.

Ở địa phận thôn Phù Sa, xã Viên Sơn (nay thuộc phường Sơn Tây, Hà Nội) có ngôi đình tên gọi Phù Sa thờ phò mã và công chúa - con vua Đinh Tiên Hoàng. Theo các nguồn tư liệu, phò mã tên Quán Sơn, là người khôi ngô, tuấn tú, tài năng, anh hùng nhất cõi. Vua Đinh Tiên Hoàng chọn chàng sánh đôi cùng công chúa Phương Dung. Giúp nước đánh xong quân Tống xâm lược, đất nước yên bình, phò mã cùng công chúa về quê Phù Sa chiêu dân lập ấp. Phương Dung dạy dân trồng dâu, nuôi tằm...

Khi phò mã và công chúa mất, được nhân dân Phù Sa lập đền thờ. Lễ hội đình Phù Sa cầu cho quốc thái dân an, vạn vật tốt tươi, được tổ chức vào ngày 14 tháng Giêng có lễ rước nước, lấy nước sông Hồng, rước lên kiệu, đi quanh làng… Nước sông Hồng đỏ nặng phù sa. Một ý nghĩa thật hay, sâu lắng, nhân văn: rước nước là rước phù sa, rước sự màu mỡ may mắn, phì nhiêu hạnh phúc…

Khi Lý Công Uẩn (thế kỷ XI) dời đô ra Thăng Long, một số nghệ nhân gốm làng Bồ Bát (xã Yên Thành, nay thuộc xã Yên Mô, Ninh Bình) theo vua ra kinh đô. Thấy vùng ven sông Hồng có đất tốt, họ dừng lại lập làng, mở lò, dạy dân nghề gốm, và đặt tên là Bát Tràng (gồm “Bồ Bát” và “Minh Tràng” - tên hai làng cũ hợp lại).

Truyền thuyết kể các cụ tổ đi dọc bờ sông Hồng thì gặp 72 đụn đất sét trắng, loại đất quý tạo gốm và những sản phẩm đặc biệt. Các cụ dừng lại, gây dựng nên Bạch Thổ phường, tức phường làm nghề gốm từ đất trắng kia. Thứ đất trắng ấy chính là phù sa quý có được từ sự bào mòn, va đập, cọ xát trong mưa nguồn từ miền đá trắng ở đâu đó trên miền thượng du xa xôi…

image003.jpg -1
Sông Hồng đỏ nặng phù sa.

Không có phù sa, không có đồng bằng châu thổ, cũng không có các nền văn minh gắn liền với các dòng sông mẹ. Tất yếu phù sa chảy vào văn học để trở thành các biểu tượng đa nghĩa, về sự bồi đắp, về sự nuôi dưỡng, về thời ký ức xa xưa, sự nhẫn nại bền bỉ, lòng trung hậu, vị tha.

Trong “Trăm năm cô đơn” nổi tiếng, nhà văn Gabriel García Márquez mô tả vùng Macondo sau những trận mưa lớn, thì “Khi trời tạnh, mặt đất phủ một lớp phù sa lấp lánh, như thể thời gian cũng tan ra thành đất”. Thì ra, phù sa cũng là ký ức lịch sử, là sức sống âm thầm mà mãnh liệt giúp con người vượt qua cô đơn và quên lãng.

Pablo Neruda - nhà thơ Chile, trong “Canto General” (Bài ca chung) - bộ sử thi vĩ đại, viết: “Từ trong đất bùn, ta đứng dậy/ Mang hương vị phù sa Tổ quốc”. Theo vậy, mỗi con người được chắt ra từ cuộc sống (đất bùn) để mang tư tưởng phù sa nhân dân mạnh mẽ, muôn đời và luôn tươi rói.

Trong “The Grapes of Wrath” (Chùm nho uất hận), John Steinbeck kể về tình trạng người nông dân Mỹ bị mất đất do thiên tai hạn hán, bão lũ. Họ nhớ về “những cánh đồng được phủ bởi lớp đất phù sa mềm như hơi thở của mẹ”. Thì ra phù sa đồng bằng luôn sống trong ký ức con người. Phù sa cho họ sự sống, sức sống. Phù sa mất cũng là mất đi điểm tựa cuộc đời.

Cuốn sách ám ảnh day dứt một ý thức nhân văn, nhân bản của con người về cội nguồn, về ứng xử với đất đai, xứ sở. Không chỉ nhận Giải thưởng Sách Quốc gia, Giải thưởng Pulitzer, tác phẩm còn giúp tác giả nhận Giải thưởng Nobel Văn học năm 1962.

Trong “Chiều sông Thương”, nhà thơ Hữu Thỉnh có những câu rất hay, ân tình về “phù sa”: “hạt phù sa rất quen/ sao mà như cổ tích…/ dâng cho mùa sắp gặt/ bồi cho mùa phôi phai…”. Nhà thơ Trần Đăng Khoa, trong “Hạt gạo làng ta” đã sớm triết lý sâu sắc: “Hạt gạo làng ta/ Có vị phù sa/ Của sông Kinh Thầy...”. Nhạc sĩ Phạm Tuyên trong bài hát “Khúc hát ru người mẹ trẻ” sâu lắng, nhân hậu: “Đôi làn môi con/ nghiêng về vú mẹ/ như cây lúa nhỏ/ nghiêng về phù sa…”.

Trong cuộc thi tiểu thuyết của Thời báo văn học, nghệ thuật mới đây (trao giải ngày 10/10/2025), tiểu thuyết “Phù sa máu” của Trần Trọng Tân là một ẩn dụ nghệ thuật mời gọi khám phá, tìm hiểu về cuộc đời hôm qua và hôm nay. “Máu” là biểu tượng đa nghĩa, thậm chí đối lập nhau, quý giá thiêng liêng vô cùng, vì có gì quý hơn máu đâu (với người lương thiện). Nhưng cũng là biểu hiện của tính cách tàn bạo (sự “khát máu” của kẻ thù).

Đây là tiểu thuyết hay, hấp dẫn, không chỉ ở tình huống, nhân vật, còn ở giọng văn, ở sự nêu ra các nguyên lý đời sống, các triết lý về cách sống…

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).