Phố vàng phố bạc lung linh

Nhớ ngày còn bé, có lần tôi theo bố lên phố Hàng Bạc (phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) tìm mua vòng lắc đeo cổ chân cho cháu ngoại. Ông vừa mặc quần áo vừa ngâm nga mấy câu: “Thông ngôn ký lục bạc chục không màng/ Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đầy tay”.

Bố mua cho cái kem và bắt tôi đứng đợi ở rạp cải lương Kim Chung. Ánh sáng đèn khò chạm bạc bập bùng trước mặt. Người người qua lại vội vã. Tôi mút khô cả que kem mới thấy bố quay về, vội khóc òa lên vì lo sợ.

Những ngôi nhà ánh sáng

Ánh lửa đèn khò ngày đó trở thành một ký ức khó phai trong tôi. Thợ chạm bạc ngồi lấp ló phía trong cửa hàng. Những ngôi nhà chạy dọc phố lúc nào cũng sáng rực ánh đèn. Khách ra vào tấp nập. Có những ngôi nhà ở phố Hàng Bạc mà tôi cho là không hề thay đổi cả thế kỷ qua. Nhất là cửa hàng số 47 ngày nào vẫn giữ nguyên hình hài của nó. Những cánh cửa gỗ nứt nẻ, sứt vỡ vẫn được kéo ra lắp vào hàng ngày cho đến nay. Cửa hàng thấp với mái ngói rêu phong trước ngôi đình Kim Ngân (thờ tổ nghề chế tác vàng bạc). Tôi đoán họa sĩ Bùi Xuân Phái đã vẽ bức phố Hàng Bạc có lấy bối cảnh này với mái ngói nhấp nhô của dãy phố trong cảnh mùa đông rét mướt. Và nghe như góc đường đang vang lên bản nhạc mưa phố ngày nào: “Tiếng đàn buông trượt dốc rêu phong/ Mái ngói lô xô hắt hiu nghiêng đổ/ Chợt mắt em hiện trên khung cửa/ Nốt dương cầm da diết gọi mưa…”.

3 cửa hàng bạc cổ số 47.jpg -0
Cửa hàng bạc cổ số 47 phố Hàng Bạc.

Phố Hàng Bạc chỉ dài chừng gần 300 mét nhưng lại chia thành hai phần vì bị phố Đinh Liệt và Tạ Hiện cắt ngang. Nửa dãy phố từ Đinh Liệt kéo tới phố Hàng Đào, toàn người dân làng Định Công làm đồ mỹ nghệ, đậu bạc tinh xảo. Nửa phố còn lại kéo dài tới ngã ba Hàng Mắm và Hàng Bè thì thuộc đất dân Châu Khê (Hải Dương) tụ đến từ trước. Họ toàn chế đồ trang sức bạc (vòng, lắc, dây, nhẫn, hoa tai...). Phố được hình thành từ đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497). Sau này thêm làng khảm bạc Đồng Xâm (Thái Bình) kéo lên lập thành phường hội đúc bạc cho triều đình Huế. Hàng Bạc luôn được coi là trung tâm phố mang tên Hàng. Trong dân gian kẻ chợ, tên phố được kể đầu tiên trong bài xẩm chợ: “Ba mươi sáu mặt phố phường/ Hàng Giày, Hàng Bạc, Hàng Ngang, Hàng Đào…”. Phía dãy số nhà lẻ dài hơn có tới số nhà 179, còn bên chẵn chỉ có tới nhà số 140. Nhưng thực ra còn những nhà cùng số theo thứ tự A, B, C thì cả hai bên dãy phố có tới 200 cửa hàng vàng bạc.

Hầu như khách phương xa tới Hà Nội đều dạo qua phố Hàng Bạc. Những vật dụng trong cửa hàng như có những con mắt cởi mở chân tình chào đón của kẻ chợ vẫn neo giữ tới nay. Trong những kiến trúc cổ nhà ống dài với sân trời giếng nước trên phố thì khác biệt nhất là rạp hát Tố Như (1925-1939), số nhà 72. Đó chính là rạp Chuông Vàng của Nhà hát Cải lương Hà Nội và được coi là điểm nhấn của khu phố cổ. Nó được hình thành với cấu trúc của một nhà hát Pháp nhỏ với 250 ghế ngồi và trở thành chốn giải trí của giới ăn chơi Hà Thành một thuở. Rạp gây dấu ấn đặc biệt từ khi được Đoàn Cải lương Kim Chung mua lại (1947-1956). Cô đào Kim Chung nổi tiếng với danh hiệu đệ nhất danh ca Bắc Hà.

Nhưng có lẽ rạp cải lương Kim Chung còn vang dội hơn bởi cuộc hội ngộ hùng mạnh của trung đoàn Thủ đô trong cuộc chiến chống thực dân Pháp. Đúng vào thời điểm lịch sử toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), tại đây các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô đã làm lễ tuyên thệ “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh (ngày 14/1/1947). Một không khí rạo rực trong cuộc chiến đấu sống còn của Trung đoàn Thủ đô bắt đầu từ rạp hát này. Sau khi hòa bình lập lại, rạp hát được mang tên Chuông Vàng (từ năm 1956). Nhưng cho tới nay, tiếng Chuông Vàng một thời vẫn luôn vang lên âm hưởng của thời khắc: “Cùng nhau đi Hồng binh/ Đồng tâm ta đều bước/ Đừng cho quân thù thoát/ Ta quyết chí hy sinh…” (Nhạc sĩ Đinh Nhu -1930).

Giấc mơ xuân đằm thắm dưới giăng ngà

Không khí cảm tử để Tổ quốc quyết sinh đã được nuôi dưỡng từ trước đó ở phố Hàng Bạc. Bởi lẽ ngôi nhà số 86 chính là trụ sở của Ban chỉ huy Trung đoàn Thủ đô (hoạt động từ 12/1946 tới 2/1947). Những kế hoạch tác chiến trên đường phố Hà Nội đều được hoạch định tại đây. Ngôi nhà số 86 Hàng Bạc vẫn được bảo tồn, gìn giữ gần như nguyên vẹn cho tới nay sau 100 năm xây dựng.

Nhưng ngôi nhà này còn đánh dấu một lịch sử sâu sắc khác mà ít người biết đến. Đây chính là hiệu vàng của ông chủ Phạm Chấn Hưng giầu có bậc nhất Hà Nội. Ông không những là một nhà tư sản lớn mà còn là người có tinh thần yêu nước cứu quốc. Con trai ông là nhà thơ nổi tiếng Phạm Huy Thông (1916 - 1988). Phạm Huy Thông đã lớn lên và trưởng thành từ ngôi nhà này.

Đặc biệt, Phạm Huy Thông vang danh từ năm 16 tuổi với bài thơ “Tiếng địch sông Ô” và trở thành hiện tượng trong phong trào Thơ mới. Ngay tại ngôi nhà này, Phạm Huy Thông dồn sức sáng tác và cho in liền 4 tập thơ: “Yêu đương” (1933); “Anh Nga” (1934); “Tiếng địch sông Ô” (1935); và “Tần Ngọc” (1937). Đó là thời điểm thăng hoa nhất của ông khi ở độ tuổi 20.

3 cửa hàng bạc cổ số 47.jpg -0
Rạp hát Chuông vàng (Nhà hát Cải lương Hà Nội).

Cùng thời gian này ông tốt nghiệp Cử nhân Luật tại Viện Đại học Đông Dương (1937). Sau đó nhà thơ đi Pháp du học nhiều năm và trở thành Giáo sư và giữ chức Ủy viên Hội đồng Giáo dục tối cao tại Pháp (1947). Sau này Giáo sư Phạm Huy Thông về nước tham gia hoạt động trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học và xã hội. Giáo sư Phạm Huy Thông còn được bầu là Viện sĩ viện Hàn lâm khoa học (Cộng hòa dân chủ Đức). Ông có nhiều công trình giá trị thuộc chuyên ngành khoa học xã hội và được nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (năm 2000).

Phạm Huy Thông tuy dừng làm thơ khá sớm nhưng ông đã để lại di sản mang giá trị đáng kể trong phong trào Thơ mới (1930-1942). Nhà phê bình Hoài Thanh-Hoài Chân đã từng nhận xét: “Giữa cái ẻo lả, cái ủy mị của những linh hồn đương chờ sa ngã, thơ Huy Thông đã ồ ạt đến như một luồng gió mạnh”. Với những câu thơ ẩn giấu khát vọng sống, Phạm Huy Thông thể hiện nhịp điệu sôi động: “Tôi muốn hóa một con chim để cùng gió/ Bay lên cao mơn trớn sợi mây hồng/ Muốn uống vào trong buồng phổi vô cùng/ Tất cả ánh sáng dưới gầm trời lồng lộng/ Muốn có đôi cánh tay vô ngần to rộng/ Để ôm ghì cả vũ trụ vào lòng tôi!”.

Và hồn thơ “Tiếng địch sông Ô” vẫn còn đâu đó với những ám ảnh bi kịch của một anh hùng cái thế sa cơ trong tích truyện cổ: “Ôi! Những võ công oanh liệt chốn sa trường!/ Những buổi tung hoành/ Lăn lộn trong rừng thương!/ Những tướng dũng bị đầu văng trước trận…!/ Nhưng, than ôi! Vận trời khi đã tận/ Sức lay thành nhổ núi mà làm chi?...”. Nhưng tấm lòng trong trẻo với sự hồn nhiên thơ mộng vẫn là cốt cách thi ca Phạm Huy Thông: “Khách đa tình còn bâng khuâng quyến luyến/ Giấc mơ xuân đằm thắm dưới giăng ngà/ Mà đêm biếc sắp tàn, giăng xuân biến/ Và vừng hồng sẽ tắm nắng chân mây xa!” (Tiếng ca).

Mãi vẫn là tuổi thơ tôi Hà Nội

Hơn mười năm qua, chúng tôi mỗi khi đi qua phố Hàng Bạc đều nhớ tới giai điệu bài hát “Mãi là tuổi thơ tôi Hà Nội” của nhạc sĩ Nguyễn Cường. Những thanh âm như được treo lên những quả chuông vàng chuông bạc trên hàng cây đường phố. Nguyễn Cường ở ngôi nhà 94 Hàng Bạc cùng gia đình từ nhỏ. Những tác phẩm âm nhạc của anh luôn nổi bật lên âm hưởng Hà Nội sâu đậm. Lời bài ca về tuổi thơ luôn bay bổng trên không gian phố: “Nhớ vô cùng ngày tôi xa Hà Nội/ Những phố phường tuổi thơ tôi bồi hồi/ Phố Hàng Lược chợ hoa, phố Hàng Đào lụa tơ/ Đất Thăng Long người ơi…”.

Người ta luôn yêu thích những “Hò biển”, “Ly cà phê Ban Mê”, hay “Đôi mắt Pleiku”, “Hzen lên rẫy”… của Nguyễn Cường; thì lại càng nhớ tới chùm ca khúc về Hà Nội của anh như “Khúc Romance Hà Nội”, “Hoa loa kèn đã nở rồi”, “Đàn cầm dây vũ dây văn” cùng “Mãi vẫn là tuổi thơ tôi Hà Nội”. Tiếng đàn dương cầm luôn vang lên nơi cuối phố Hàng Bạc. Những bạn trẻ hay dừng chân nơi đây và tưởng nhớ: “Tiếng chuông chùa vẳng xa thật xa/ Những mái nhà ngói xô bài ca/ Những gì đã qua lại bao la vọng về/ Những gì đã qua lại bao la mỗi chiều/ Mãi vẫn là tuổi thơ tôi Hà Nội”.

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).