Phim truyền thống - đôi điều cần nói

Tuy không có những qui định cụ thể nhưng một điều gần như "luật bất thành văn" là lâu nay, một đơn vị đến ngày kỉ niệm thành lập, song song với việc đề nghị cấp trên khen thưởng là phải làm một cuốn phim truyền thống, dài thì một tiếng đồng hồ, phổ biến thì khoảng 35 đến 45 phút...

Phim truyền thống có ý nghĩa về nhiều mặt. Nó giúp cho mọi người thấy rõ hơn quá trình hình thành và phát triển của đơn vị đó, địa phương đó, giúp gặp lại những gương mặt của bạn bè đồng nghiệp đã một thời cùng nhau công tác, thấy rõ hơn những cống hiến của đơn vị, địa phương.

Nhiều phim truyền thống có nội dung hấp dẫn, khai thác được nhiều chất liệu mới lạ, làm tăng thêm sự tự hào về truyền thống trong các thế hệ của đơn vị, địa phương đó. Có nhiều người đã nói, bao nhiêu năm công tác ở đơn vị, địa phương mà không có điều kiện để tìm hiểu, nay được xem phim truyền thống của đơn vị, địa phương mình mới thấy hết, hiểu hết tầm vóc, ý nghĩa. Do vậy xây dựng phim truyền thống là một nhu cầu, một nguyện vọng thực tế đặt ra mà chúng ta cần quân tâm. Vấn đề là làm sao có được những phim truyền thống có nội dung hay. Đó là điều không dễ. Nó đòi hỏi khai thác tư liệu làm sao cho phong phú và hấp dẫn. Nhất là tìm cho được những tư liệu mới, chính của đơn vị, địa phương mà không thể trùng với các đơn vị, địa phương khác. Nó được thể hiện sâu sắc không chỉ bằng hình ảnh mà bằng cả lời bình và âm giọng của người đọc lời bình. Tất cả quyện vào một tạo nên âm hưởng của chất lượng phim truyền thống

Tuy nhiên gần đây, xem phim truyền thống của một số đơn vị, địa phương, thấy có những điều cần được điều chỉnh để nâng cao chất lượng. Nếu không sẽ rơi vào hình thức, làm cho mọi người quan niệm làm cho có, chẳng có gì mới hoặc không xem cũng đã biết cả rồi... Có tình trạng đó là vì:

- Phim truyền thống có lúc bị lạm dụng nên sản xuất hơi nhiều. Hễ kỉ niệm là có phim. Chẳng hạn những đơn vị kỉ niệm 10 năm thành lập đã có phim truyền thống, nay kỉ niệm 15 năm cũng lại phim truyền thống, mà xem thì thấy rõ hai phần, phần 10 năm cộng thêm phần 5 năm. Có địa phương kỉ niệm 5 năm tách ra rồi nhập vào cũng làm phim truyền thống. Đã có lúc người xem bàn tán tách ra đầy thành tích mà nhập vào cũng thành tích không kém... Đó là điều cần phải suy nghĩ. Làm sao khi thai nghén một phim truyền thống phải có được những tư liệu quí, ấp ủ được những điều tâm huyết, lắng đọng, làm nổi bật những thông điệp cần gửi gắm. Không nên nặng về biên niên sự kiện.

- Một số phim truyền thống ít có những tư liệu mang tính đặc thù mà có khi sử dụng những tư liệu chung. Điều này rất dễ thấy khi nói về thành tích góp phần cùng cả nước đánh Mỹ thì thường thấy sử dụng những đoạn trong các phim tài liệu quốc gia. Vẫn là hình ảnh của những đoàn quân ra trận, rồi cảnh máy bay địch ném bom... mà đã không ít lần chúng ta được xem, chỉ khác chăng là những lời bình.

- Có nhiều phim truyền thống nặng về nói hiện tại mà nói chưa đầy đủ về các thế hệ đã dày công vun đắp trước đó. Thế hệ những người lãnh đạo đơn vị, địa phương, nhất là những người đứng đầu xuất hiện nhiều. Hình ảnh những người của các thế hệ trước thì có phần mờ nhạt. Điều này đã gây nên không ít  phản cảm, cho rằng đó là phim của những "ông" hiện tại chứ có phải phim truyền thống đâu.

Đất nước vào những dịp có nhiều ngày kỉ niệm lớn thì cũng thường kéo theo nhiều đơn vị, địa phương có nhiều kỉ niệm truyền thống. Tất yếu yêu cầu làm phim truyền thống cũng tăng lên. Qua thực tế trên, người viết bài này rất mong muốn làm sao để nâng cao chất lượng phim truyền thống của các đơn vị, địa phương.

Không nên chạy theo số lượng, tránh kiểu làm phim theo phong trào. Phải chú trọng tất cả mọi yêu cầu, trong đó quan trọng là kịch bản và chất lượng tư liệu. Các đài truyền hình cần làm tốt việc lựa chọn để đưa phim lên sóng, cũng đừng vì sóng phát mở ra nhiều mà dễ dãi trong phần xét duyệt. Có như thế chúng ta mới có được những phim truyền thống có chất lượng, đáp ứng yều cầu mong đợi của mọi người. Hơn nữa cũng tránh được sự lãng phí tiền của Nhà nước trong khâu này.

Phạm Văn Thạch

Các tin khác

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.