Phiếm luận về chợ

Cùng với sự phát triển về văn minh vật chất của xã hội loài người, chợ là hình thái tất yếu phải xuất hiện, nhằm thỏa mãn những nhu cầu trao đổi sản phẩm, nhu cầu mua bán, nhằm phục vụ cho cuộc sống con người trở nên đầy đủ hơn, thoải mái hơn. Chợ gắn với sự phát triển của kinh tế, thương mại, tiền tệ, mang trong nó hình ảnh văn hóa và lịch sử của cả cộng đồng. Nhân dịp năm mới, xin được hầu chuyện độc giả về chợ trong đời sống ngôn ngữ và văn chương của người Việt.

1. Theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học, chợ được định nghĩa là “nơi công cộng để đông người đến mua bán vào những ngày, buổi nhất định”. Những diện mạo của chợ trong đời sống xã hội đương đại, có thể thấy đã vượt qua nội hàm định nghĩa trên. Chợ có sự phát triển từ mức độ sơ khai, tự phát lên mức độ có tổ chức, quy mô, được kiểm soát. Từ những gian chợ quê với vài món quà nghèo, người Việt giờ đã có rất nhều siêu thị lớn ở các thành phố - cũng chính là một dạng chợ của đời sống đô thị hiện đại.

chợ tết ở quê.jpg -0
Chợ Tết ở quê.

Có những loại hình chợ rất đặc biệt chỉ mở mỗi năm một lần như chợ Viềng Nam Định hay chợ tình Khau Vai. Những loại hình chợ như vậy mang ý nghĩa văn hóa – lịch sử nhiều hơn là ý nghĩa mua bán trao đổi hàng hóa. Như Chợ Viềng chỉ mở duy nhất vào đêm mùng 7 rạng sáng mùng 8 tháng Giêng hàng năm, đón mọi người về chơi với ý nghĩa “mua may bán rủi”. Còn chợ tình Khau Vai chỉ họp mỗi năm một lần vào ngày 27 tháng 3 âm lịch, với ý nghĩa dành cho những người yêu nhau mà không thể lấy nhau được ôn lại những kỷ niệm xưa, tình cảm xưa, được có một ngày để gần gũi, tâm sự, hỏi han nhau về cuộc sống riêng của mỗi người.

Người Việt còn có loại hình chợ phiên được họp theo tuần, theo tháng hoặc theo quý. Mỗi chợ phiên như thế có thể có những mặt hàng như những đặc sản riêng biệt của mỗi vùng miền. Phân loại theo không gian họp chợ, người Việt còn có những loại hình chợ khá đặc biệt như chợ nổi hay chợ trời. Chợ nổi được hiểu là chợ họp một cách tự phát trên mặt sông, mọi người bày bán hàng hóa trên các con thuyền. Loại hình chợ nổi rất thịnh hành ở miền Tây Nam Bộ, chẳng hạn chợ nổi Cái Bè (Tiền Giang), chợ nổi Châu Đốc (An Giang), chợ nổi Cái Răng (Sóc Trăng), chợ nổi Long Xuyên… Chợ trời thì được hiểu là loại chợ họp ở ngoài trời, không có mái che. Ở Hà Nội, chợ trời nổi tiếng là khu vực Phố Huế - Thịnh Yên.

Khu biệt về tính chất của các loại chợ, người Việt còn có các khái niệm như chợ xanh (chỉ chợ tạm bán các loại rau quả), chợ đen (chỉ thị trường mua bán tiền tệ bất hợp pháp), chợ người (chỉ nơi có những người lao động chân tay đứng chờ sẵn để được người khác thuê mình), chợ cóc (chợ nhỏ, thường họp tự phát trong thời gian ngắn, không ở cố định một chỗ).

Từ “chợ chiều” ngoài ý nghĩa vật lý chỉ thời gian họp chợ, còn được phái sinh thêm ý nghĩa thứ hai là quang cảnh lúc rã đám, tàn cuộc của một sự việc, hiện tượng nào đó. Người đồng bằng khi đi chợ thường nói “ra chợ” hoặc “vào chợ” trong khi người vùng cao thường nói “xuống chợ”. Chợ còn trở thành một chỉ dấu quan trọng đại diện cho đô thị, vì thế mà từ thời Lý – Trần đã có cách nói “kẻ chợ” để chỉ những người ở kinh thành Thăng Long, phân biệt với “kẻ quê” là những người ở các vùng nông thôn.

2. Chợ là một không gian quen thuộc với người Việt ở khắp mọi vùng miền, gắn với đời sống tâm tư tình cảm hàng ngày. Tử thuở bé thơ, ai trong chúng ta mà chẳng trải qua cái cảm xúc ngóng mẹ đi chợ về, từ đây hình thành câu nói cửa miệng: “Mong như mong mẹ về chợ”. Tình cảm đôi lứa, vợ chồng cũng mang trong đó những ví von liên quan đến không gian chợ: “Gái thương chồng đương đông buổi chợ/ Trai thương vợ nắng quái chiều hôm” (Tục ngữ). Chế giễu những cô gái lẳng lơ, thiếu đoan chính, người xưa cũng có một cách nói tài tình gắn với chữ “chợ”: “Chữ trinh đáng giá ngàn vàng/ Từ anh chồng cũ đến chàng là năm/ Còn như yêu vụng nhớ thầm/ Họp chợ trên bụng hàng trăm con người”. Cũng bàn về chuyện phòng the, để phản ánh tình trạng sức khỏe/ năng lực không được như mong muốn của các quý ông, người Việt có cách nói: “Chưa đến chợ đã hết tiền”.

untitled-14.jpg -0
Một góc chợ quê xưa.

Trong thơ ca thành văn của người Việt từ cổ điển cho tới hiện đại, chợ gắn liền với niềm vui, nỗi buồn của con người. Như khi Nguyễn Trãi lắng nghe những thanh âm một đời sống hòa bình, no ấm của muôn dân, chợ đã xuất hiện: “Lao xao chợ cá làng ngư phủ” (Bảo kính cảnh giới số 43). Hay sau này, khi Nguyễn Khuyến, nhà thơ của làng cảnh Việt Nam tặng cho chúng ta một bức tranh của chợ Đồng, đó cũng chính là tình cảm của ông với quê hương: “Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng/ Năm nay chợ họp có đông không?/ Dở trời, mưa bụi còn hơi rét/ Nếm rượu tường đền được mấy ông/ Hàng quán người về nghe xao xác/ Nợ nần năm cũ hỏi lung tung”.

Sang đến thời kỳ Thơ Mới lãng mạn (1932 - 1945), chợ đi vào khá nhiều bài thơ nổi tiếng và thường phảng phất những nỗi buồn thời đại. Huy Cận trong cái bơ vơ rợn ngợp không gian như muốn kiếm tìm chút thanh âm của một miền tụ họp con người: “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” (Tràng giang). Nhà thơ Đoàn Văn Cừ đã mở đầu bài thơ Chợ Tết bằng những câu thơ ấm áp, đầy màu sắc: “Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi/ Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà gianh/ Trên con đường viền trắng mép đồi xanh/ Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.” Nhưng cho đến phần kết của thi phẩm thì nỗi buồn hiu hắt, bàng bạc lại trở về trong một cảm giác tàn phai: “Chợ tưng bừng như thế đến gần đêm/ Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh/ Trên con đường đi các làng hẻo lánh/ Những người quê lũ lượt trở ra về/ Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê/ Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ”. Nguyễn Bính sau những bước chân giang hồ bỗng muốn tìm về giữa chợ trong một cơn say: “Ta đi nhưng biết về đâu chứ/ Đã dấy phong yên lộng bốn trời/ Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ/ Uống say rồi gọi thế nhân ơi” (Hành phương Nam).

Sau này, Đồng Đức Bốn là người có nhiều câu thơ hay tả về chợ nơi làng quê. Chợ trong thơ ông đi từ những miền cụ thể đến miền trừu tượng. Ông mang đến trước mắt chúng ta khung cảnh rất thật của một miền quê Bắc Bộ: “Nhà quê chân lấm tay bùn/ Mẹ đi cấy lúa rét run thân già/ Chợ làng mở dưới gốc đa/ Nhà quê đem mấy con gà bán chơi” (Nhà quê). Không dừng lại ở đó, thi sĩ họ Đồng đã nâng chợ lên thành một biểu tượng, gắn với tình yêu và kiếp người: “Chợ buồn đem bán những vui/ Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em/ Chợ buồn bán nhớ cho quên/ Bán mưa cho nắng bán đêm cho ngày/ Chợ buồn bán tỉnh cho say/ Bán thương suốt một đời này cho yêu/ Tôi giờ xa cách bao nhiêu/ Đem thơ đổi lấy những chiều tương tư” (Chợ buồn).

Trong thơ Hồ Dzếnh, chợ gắn với những kỷ niệm của tình đầu một thuở: “Rủ em đi chợ Đồng Xuân/ Tưởng như đi giữa bâng khuâng thuở nào/ Nắng hanh rám má bưởi đào/ Chợt nghe hương vị thấm vào tâm tư/ Đồng Xuân này lối năm xưa/ Anh chưa lấy vợ em chưa lấy chồng/ Nhưng thôi, chuyện cũ – chuyện lòng/ Nhắc chi húng Láng, cốm Vòng hỡi em” (Rủ em đi chợ Đồng Xuân). Trong thơ Xuân Quỳnh, chợ gắn với đủ lo toan sinh hoạt đời thường của những người phụ nữ: “Chúng tôi chỉ là những người đàn bà bình thường không tên tuổi/ Quen việc nhỏ nhoi bếp núc hàng ngày/ Cuộc sống ngặt nghèo phải tính sao đây/ Gạo, bánh, củi, dầu chia thế nào cho đủ/ Đầu óc linh tinh toàn nghĩ về chợ búa/ Những quả cà, mớ tép, rau dưa” (Thơ vui về phái yếu).

3. Có một câu chuyện thật đặc biệt của người Việt về chợ. Đó là chợ Mạnh Ma trong truyện cổ tích “Sự tích sông Nhà Bè hay là truyện Thủ Huồn”, được Nguyễn Đổng Chi ghi lại trong “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam”.

Truyện kể rằng, Thủ Huồn vốn là một tay đại phú nhờ vào những sự luồn lọt hại người trong những năm hắn làm việc trong các nha các ti, nhưng vợ Thủ Huồn lại không may chết sớm. Nhờ có chợ Mạnh Ma là nơi người sống và người chết có thể gặp nhau mỗi năm một lần, nên Thủ Huồn mới gặp lại vợ, được vợ dẫn đi thăm âm phủ, xem nơi địa ngục là chỗ xử tội những người khi còn sống làm nhiều điều ác. Ở đó, Thủ Huồn thấy xếp sẵn một bộ gông cùm và dụng cụ tra tấn đang chờ hắn.

Về trần gian, Thủ Huồn quyết tâm cải tà quy chính, bố thí hết tài sản, tìm bến sông dựng một chiếc bè giúp đỡ người qua lại cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời. Nhờ thế, Thủ Huồn không những được xóa sạch tội lỗi dưới âm phủ mà còn được đầu thai làm vua bên Trung Quốc. Như vậy, chợ trong câu chuyện của người Việt còn trở thành một biểu tượng với ý nghĩa giáo dục, cảm hóa con người.

Tóm lại, trong lịch sử của cộng đồng người Việt, chợ là một vùng không gian không thể thiếu, gắn với sinh hoạt hàng ngày, là nguồn cung cấp mọi nhu yếu phẩm cho cuộc sống của con người. Không chỉ thế, chợ còn có nhiều ý nghĩa tích cực trong đời sống tinh thần và người Việt cũng cấp thêm những tầng nghĩa, những biểu đạt mới cho chợ, trong ngôn ngữ và trong các tác phẩm văn học suốt chiều dài lịch sử.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).