Phi đội quyết thắng – Đòn táo bạo trước ngày toàn thắng

Cuối tháng 4 năm 1975, hòa cùng nhịp tiến quân thần tốc của các đơn vị trên mặt đất, từ trên không, Không quân nhân dân Việt Nam đã thực hiện đòn đánh hiểm hóc, táo bạo, bất ngờ vào sào huyệt địch bằng chính máy bay thu được của địch. 45 năm đã trôi qua, song trận đánh năm nào vẫn hiển hiện qua ký ức của những người trong cuộc...

Chuyển loại... thần tốc

Về nghỉ hưu đã lâu, song nghiệp bay cũng như chuyến bay đặc biệt năm nào vẫn luôn hiện hữu trong nhà riêng của Đại tá, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Lục, nguyên Phi đội trưởng Phi đội Quyết thắng, nguyên Trưởng phòng Quân huấn - Nhà trường, Quân chủng Phòng không - Không quân (PK-KQ).

Trong phòng khách, ông luôn dành vị trí trang trọng cho những chiếc máy bay mô hình, đặc biệt là tấm ảnh chụp Phi đội Quyết thắng sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh bom sân bay Tân Sơn Nhất tháng 4/1975. Với giọng kể chắc, khỏe của “lính bay”, nhiệm vụ đặc biệt năm nào lại được ông tái hiện sinh động và rõ nét...

Cuối tháng 3/1975, sau khi giải phóng Huế và Đà Nẵng, ta thu được một số máy bay chiến đấu của địch. Chủ trương của Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh là giao cho Quân chủng PK-KQ gấp rút huấn luyện, sẵn sàng tổ chức lực lượng tham gia chiến dịch vào thời điểm quyết định. 

Phi đội Quyết thắng hoàn thành nhiệm vụ đánh bom Sân bay Tân Sơn Nhất, về hạ cánh an toàn tại sân bay Phan Rang. (Ảnh tư liệu).
Phi đội Quyết thắng hoàn thành nhiệm vụ đánh bom Sân bay Tân Sơn Nhất, về hạ cánh an toàn tại sân bay Phan Rang. (Ảnh tư liệu).

Ngay sau khi nhận được chỉ thị của trên, Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ đã xem xét, lựa chọn Phi đội 4, Trung đoàn 923 (Sư đoàn 371, Quân chủng PK-KQ) tham gia thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này.

Đại tá Nguyễn Văn Lục nhớ lại: “Chiều 22/4/1975, chúng tôi cơ động từ sân bay Gia Lâm vào sân bay Đà Nẵng. Sau khi hạ cánh, Đại tá Trần Mạnh, Phó Tham mưu trưởng Quân chủng PK-KQ giao nhiệm vụ cho Phi đội: Tổ chức huấn luyện chuyển loại trên máy bay A-37 thu được của địch ngay ngày mai, chuẩn bị cho một trận đánh lớn bằng chính loại máy bay này.

Sáng 23/4, các phi công gồm Nguyễn Văn Lục, Hán Văn Quảng, Từ Đễ, Hoàng Mai Vượng bắt đầu phần học lý thuyết bay; tìm hiểu tính năng, tác dụng của máy bay A-37 và các trang thiết bị trên máy bay… Hỗ trợ phi công của ta trong quá trình huấn luyện chuyển loại có hai phi công ngụy đã được ta giáo dục, cải tạo là Trần Văn On và Trần Ngọc Xanh.

Là người con của đất Tổ Phú Thọ, vinh dự được lựa chọn tham gia đội hình chiến đấu của Phi đội Quyết thắng ở vị trí bay số 5, Đại tá, Anh hùng LLVTND Hán Văn Quảng, nguyên Phó tham mưu trưởng Quân chủng PK-KQ, bồi hồi nhớ lại: “Một trong những khó khăn lớn nhất đối với phi đội lúc bấy giờ là phải khai thác và làm chủ máy bay của địch chỉ trong vòng hai ngày rưỡi. Bởi vậy, các phi công đã tích cực học tập không quản ngày đêm, trong đó ưu tiên những nội dung quan trọng, thiết thực nhất, như cách sử dụng trang thiết bị buồng lái để cất cánh an toàn, khi ném bom thì bom phải ra, sử dụng cửa dầu sao cho chuẩn xác trong quá trình hạ cánh...”.

Một khó khăn khác xuất hiện là ký hiệu toàn bộ thiết bị trên máy bay đều bằng tiếng Anh, trong khi các phi công của ta không biết ngoại ngữ này. “Cái khó ló cái khôn”, sau khi trao đổi, một “sáng kiến” đã được đưa ra: Nguyễn Thành Trung, Trần Văn On và Trần Ngọc Xanh dịch chữ trên các núm, nút công tắc ra tiếng Việt, sau đó viết ra giấy và dán đè lên phần chữ tiếng Anh.

Sáng 24/4, việc bay thử được tiến hành trên 2 chiếc A-37 đã được thợ máy khắc phục và chuẩn bị xong. Cùng bay thử với hai phi công On và Xanh có phi công Từ Đễ. Sau bay thử, cả 2 máy bay đều tốt. Khi các phi công bước vào thực hành bay chuyển loại, khó khăn lại xuất hiện, do các thiết bị trên máy bay A-37 bố trí hoàn toàn khác so với máy bay mà các phi công của ta đã khai thác trước đó, ví dụ như vị trí phanh, các công tắc…

Nhằm “hóa giải” những khó khăn đặt ra, các phi công học mọi lúc, mọi nơi, kể cả trước khi đi ngủ, nhằm hệ thống hóa lại những gì đã học, như hình dung lại vị trí các phím công tắc; trình tự một chuyến bay; nguyên nhân dẫn đến sai sót trong quá trình bay... Do vậy, trình độ kỹ thuật lái của mỗi phi công được củng cố vững chắc hơn qua mỗi chuyến bay. Và, đến hết ban bay sáng 27/4, kỳ huấn luyện chuyển loại “thần tốc” trong hai ngày rưỡi đã hoàn thành.

Lựa chọn mục tiêu

Sau khi kết thúc ban bay sáng 27/4, phi đội nhận lệnh cơ động vào sân bay Phù Cát (Bình Định). 16 giờ chiều cùng ngày, máy bay hạ cánh xuống sân bay Phù Cát. Tại đây, Thiếu tướng Lê Văn Tri, Tư lệnh Quân chủng PK-KQ giao nhiệm vụ cho các phi công bay thử 5 chiếc A-37. Tối hôm đó, phi đội tổ chức sinh hoạt, xác định quyết tâm, đồng thời thống nhất phương án bố trí đội hình chiến đấu.

Theo đó, Nguyễn Thành Trung sẽ bay số 1, có vai trò dẫn đường bởi anh thông thuộc địa hình khu vực tác chiến; Từ Đễ bay số 2; Nguyễn Văn Lục bay số 3; Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On bay số 4 trên một máy bay, và Hán Văn Quảng bay số 5. Sáng 28/4, Phi đội trưởng Nguyễn Văn Lục báo cáo phương án và được Tư lệnh Lê Văn Tri phê duyệt.

8 giờ 30 phút ngày 28/4, Phi đội nhận lệnh cơ động máy bay A-37 vào sân bay Phan Rang (Ninh Thuận). Tại đây, trong phần giao nhiệm vụ, 6 mục tiêu đã được đưa ra để phi đội nghiên cứu, gồm: Dinh Độc lập, Đại sứ quán Mỹ, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Tổng nha Cảnh sát ngụy, Kho xăng Nhà Bè, sân bay Tân Sơn Nhất. Sau khi thảo luận, phi đội đề nghị với trên cho phép tấn công vào sân bay Tân Sơn Nhất, bởi đây là mục tiêu diện rộng, dễ nhận biết, dễ phát hiện từ xa, thuận lợi cho việc tấn công. Đặc biệt, khi đánh trúng mục tiêu này sẽ cắt đứt cầu hàng không của địch.

Tuy nhiên, có một yêu cầu rất quan trọng được đặt ra là khi tấn công vào sân bay phải bảo đảm an toàn cho trại Đa vít- cách đường băng khoảng 300 mét- là nơi có phái đoàn quân sự của ta đang làm việc.

Phương án vạch ra là phải đánh bom dọc đường băng, tuy hiệu quả thấp hơn khi đánh bom cắt chéo sân bay một góc 30 độ, nhưng độ tản mát của bom ra hai bên đường băng sẽ hẹp hơn, bảo đảm cho trại Đa vít được an toàn. Phương án xử lý tình huống khi tiêm kích địch phát hiện, cản phá đội hình của ta cũng được xác định rõ: Các số 4, 5 sẽ không chiến với địch; các số 1, 2, 3 bằng mọi giá phải tiếp cận và công kích trúng sân bay Tân Sơn Nhất.

Xuất kích bí mật, bất ngờ

Nhớ lại trận đánh năm nào, Đại tá Hán Văn Quảng nhận xét: “Một trong những nguyên nhân quan trọng, quyết định thắng lợi của trận đánh là phi đội đã bảo đảm được yếu tố bí mật, bất ngờ, từ lúc cất cánh đến khi ném bom”.

Để giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ, Bộ Tư lệnh Quân chủng PK-KQ đã yêu cầu sở chỉ huy các cấp và phi đội tuyệt đối không mở liên lạc vô tuyến điện trong quá trình bay.

Các ký, tín hiệu từ khi cất cánh đến tìm diệt mục tiêu đều được thống nhất: Khi vào cấp 1, đài chỉ huy bay bắn 1 phát pháo hiệu, phi công lên máy bay; bắn phát pháo hiệu thứ 2, phi công mở máy; bắn phát pháo hiệu thứ 3, phi công điều khiển máy bay lăn ra đường băng, quan sát, ổn định đội hình và cất cánh.

Do không được liên lạc bằng vô tuyến điện, nên phi công bay số 1 phải giữ đúng số liệu đường bay. Các số sau kiểm tra, nếu phát hiện số 1 bay không đúng đường bay thì số 2 có trách nhiệm vượt lên, lắc cánh, thay số 1 dẫn đội hình. Nếu số nào để mất đội hình thì phải bay giữ chênh lệnh độ cao.

Đúng 16 giờ 15 phút ngày 28/4/1975, phi đội 5 chiếc A-37 được lệnh chuyển vào cấp 1 và mở máy, xuất kích chiến đấu từ sân bay Phan Rang. Mỗi máy bay mang 4 quả bom loại 250 cân Anh. Sau khi xuất kích, phi đội bay dọc bờ biển, đến ngã ba sông Sài Gòn vòng phải, về sân bay Tân Sơn Nhất.

Để giữ yếu tố bí mật, bất ngờ, phi đội thực hiện nghiêm ngặt 3 quy định: Thứ nhất, bay trùng đường bay hằng ngày của máy bay địch, nhằm không để chúng nghi ngờ đó là máy bay ta; thứ hai, bay ở độ cao thấp, tránh bị ra đa địch phát hiện; thứ ba, không sử dụng hệ thống liên lạc vô tuyến điện mà chỉ sử dụng ký, tín hiệu.

Khi còn cách sân bay Tân Sơn Nhất khoảng 20km, toàn bộ phi đội phát hiện được sân bay. Các số thực hiện kéo dài đội hình, mỗi số cách nhau từ 600-800m và lấy độ cao lên 2.000m. Tiếp đó lần lượt từng chiếc bổ nhào vào công kích mục tiêu.

Dưới bụng máy bay, khói lửa từ sân bay Tân Sơn Nhất bốc lên mù mịt. Sau khi công kích, phi đội tiếp tục bay theo đội hình, hướng về sân bay Phan Rang và hạ cánh an toàn khi trời đã chập choạng tối. Tư lệnh Lê Văn Tri cùng các đồng chí lãnh đạo Quân chủng PK-KQ và anh em thợ máy chạy ùa ra, ôm chầm lấy các phi công trong niềm vui mừng khôn xiết. Trong trận đánh này, 26 máy bay địch đã bị phá huỷ, hàng trăm tên địch bị tiêu diệt.

Đại tá Nguyễn Văn Lục nhớ lại: “Khi chúng tôi tấn công vào sân bay Tân Sơn Nhất, địch hoàn toàn bất ngờ. Chúng hốt hoảng hỏi qua vô tuyến: “Máy bay của phi đoàn nào? Máy bay của phi đoàn nào? Cho biết phiên hiệu!”.

Trực tiếp chỉ huy trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất trên cương vị Tư lệnh Binh chủng PK-KQ, Trung tướng, Anh hùng LLVTND Trần Hanh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng khẳng định: Đó là trận đánh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ta đánh vào sào huyệt địch ngay trước ngày 30-4 khiến chúng hoang mang tột độ, đội hình rối loạn, đồng thời cắt đứt đường hàng không của địch, khiến chúng phải bỏ chạy tán loạn bằng đường bộ... Những yếu tố đó thúc đẩy nhanh chóng quá trình tan rã của ngụy quyền Sài Gòn.

Phạm Hoàng Hà

Các tin khác

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.