Phi đội quyết thắng – Đòn táo bạo trước ngày toàn thắng

Cuối tháng 4 năm 1975, hòa cùng nhịp tiến quân thần tốc của các đơn vị trên mặt đất, từ trên không, Không quân nhân dân Việt Nam đã thực hiện đòn đánh hiểm hóc, táo bạo, bất ngờ vào sào huyệt địch bằng chính máy bay thu được của địch. 45 năm đã trôi qua, song trận đánh năm nào vẫn hiển hiện qua ký ức của những người trong cuộc...

Chuyển loại... thần tốc

Về nghỉ hưu đã lâu, song nghiệp bay cũng như chuyến bay đặc biệt năm nào vẫn luôn hiện hữu trong nhà riêng của Đại tá, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Lục, nguyên Phi đội trưởng Phi đội Quyết thắng, nguyên Trưởng phòng Quân huấn - Nhà trường, Quân chủng Phòng không - Không quân (PK-KQ).

Trong phòng khách, ông luôn dành vị trí trang trọng cho những chiếc máy bay mô hình, đặc biệt là tấm ảnh chụp Phi đội Quyết thắng sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh bom sân bay Tân Sơn Nhất tháng 4/1975. Với giọng kể chắc, khỏe của “lính bay”, nhiệm vụ đặc biệt năm nào lại được ông tái hiện sinh động và rõ nét...

Cuối tháng 3/1975, sau khi giải phóng Huế và Đà Nẵng, ta thu được một số máy bay chiến đấu của địch. Chủ trương của Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh là giao cho Quân chủng PK-KQ gấp rút huấn luyện, sẵn sàng tổ chức lực lượng tham gia chiến dịch vào thời điểm quyết định. 

Phi đội Quyết thắng hoàn thành nhiệm vụ đánh bom Sân bay Tân Sơn Nhất, về hạ cánh an toàn tại sân bay Phan Rang. (Ảnh tư liệu).
Phi đội Quyết thắng hoàn thành nhiệm vụ đánh bom Sân bay Tân Sơn Nhất, về hạ cánh an toàn tại sân bay Phan Rang. (Ảnh tư liệu).

Ngay sau khi nhận được chỉ thị của trên, Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ đã xem xét, lựa chọn Phi đội 4, Trung đoàn 923 (Sư đoàn 371, Quân chủng PK-KQ) tham gia thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này.

Đại tá Nguyễn Văn Lục nhớ lại: “Chiều 22/4/1975, chúng tôi cơ động từ sân bay Gia Lâm vào sân bay Đà Nẵng. Sau khi hạ cánh, Đại tá Trần Mạnh, Phó Tham mưu trưởng Quân chủng PK-KQ giao nhiệm vụ cho Phi đội: Tổ chức huấn luyện chuyển loại trên máy bay A-37 thu được của địch ngay ngày mai, chuẩn bị cho một trận đánh lớn bằng chính loại máy bay này.

Sáng 23/4, các phi công gồm Nguyễn Văn Lục, Hán Văn Quảng, Từ Đễ, Hoàng Mai Vượng bắt đầu phần học lý thuyết bay; tìm hiểu tính năng, tác dụng của máy bay A-37 và các trang thiết bị trên máy bay… Hỗ trợ phi công của ta trong quá trình huấn luyện chuyển loại có hai phi công ngụy đã được ta giáo dục, cải tạo là Trần Văn On và Trần Ngọc Xanh.

Là người con của đất Tổ Phú Thọ, vinh dự được lựa chọn tham gia đội hình chiến đấu của Phi đội Quyết thắng ở vị trí bay số 5, Đại tá, Anh hùng LLVTND Hán Văn Quảng, nguyên Phó tham mưu trưởng Quân chủng PK-KQ, bồi hồi nhớ lại: “Một trong những khó khăn lớn nhất đối với phi đội lúc bấy giờ là phải khai thác và làm chủ máy bay của địch chỉ trong vòng hai ngày rưỡi. Bởi vậy, các phi công đã tích cực học tập không quản ngày đêm, trong đó ưu tiên những nội dung quan trọng, thiết thực nhất, như cách sử dụng trang thiết bị buồng lái để cất cánh an toàn, khi ném bom thì bom phải ra, sử dụng cửa dầu sao cho chuẩn xác trong quá trình hạ cánh...”.

Một khó khăn khác xuất hiện là ký hiệu toàn bộ thiết bị trên máy bay đều bằng tiếng Anh, trong khi các phi công của ta không biết ngoại ngữ này. “Cái khó ló cái khôn”, sau khi trao đổi, một “sáng kiến” đã được đưa ra: Nguyễn Thành Trung, Trần Văn On và Trần Ngọc Xanh dịch chữ trên các núm, nút công tắc ra tiếng Việt, sau đó viết ra giấy và dán đè lên phần chữ tiếng Anh.

Sáng 24/4, việc bay thử được tiến hành trên 2 chiếc A-37 đã được thợ máy khắc phục và chuẩn bị xong. Cùng bay thử với hai phi công On và Xanh có phi công Từ Đễ. Sau bay thử, cả 2 máy bay đều tốt. Khi các phi công bước vào thực hành bay chuyển loại, khó khăn lại xuất hiện, do các thiết bị trên máy bay A-37 bố trí hoàn toàn khác so với máy bay mà các phi công của ta đã khai thác trước đó, ví dụ như vị trí phanh, các công tắc…

Nhằm “hóa giải” những khó khăn đặt ra, các phi công học mọi lúc, mọi nơi, kể cả trước khi đi ngủ, nhằm hệ thống hóa lại những gì đã học, như hình dung lại vị trí các phím công tắc; trình tự một chuyến bay; nguyên nhân dẫn đến sai sót trong quá trình bay... Do vậy, trình độ kỹ thuật lái của mỗi phi công được củng cố vững chắc hơn qua mỗi chuyến bay. Và, đến hết ban bay sáng 27/4, kỳ huấn luyện chuyển loại “thần tốc” trong hai ngày rưỡi đã hoàn thành.

Lựa chọn mục tiêu

Sau khi kết thúc ban bay sáng 27/4, phi đội nhận lệnh cơ động vào sân bay Phù Cát (Bình Định). 16 giờ chiều cùng ngày, máy bay hạ cánh xuống sân bay Phù Cát. Tại đây, Thiếu tướng Lê Văn Tri, Tư lệnh Quân chủng PK-KQ giao nhiệm vụ cho các phi công bay thử 5 chiếc A-37. Tối hôm đó, phi đội tổ chức sinh hoạt, xác định quyết tâm, đồng thời thống nhất phương án bố trí đội hình chiến đấu.

Theo đó, Nguyễn Thành Trung sẽ bay số 1, có vai trò dẫn đường bởi anh thông thuộc địa hình khu vực tác chiến; Từ Đễ bay số 2; Nguyễn Văn Lục bay số 3; Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On bay số 4 trên một máy bay, và Hán Văn Quảng bay số 5. Sáng 28/4, Phi đội trưởng Nguyễn Văn Lục báo cáo phương án và được Tư lệnh Lê Văn Tri phê duyệt.

8 giờ 30 phút ngày 28/4, Phi đội nhận lệnh cơ động máy bay A-37 vào sân bay Phan Rang (Ninh Thuận). Tại đây, trong phần giao nhiệm vụ, 6 mục tiêu đã được đưa ra để phi đội nghiên cứu, gồm: Dinh Độc lập, Đại sứ quán Mỹ, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Tổng nha Cảnh sát ngụy, Kho xăng Nhà Bè, sân bay Tân Sơn Nhất. Sau khi thảo luận, phi đội đề nghị với trên cho phép tấn công vào sân bay Tân Sơn Nhất, bởi đây là mục tiêu diện rộng, dễ nhận biết, dễ phát hiện từ xa, thuận lợi cho việc tấn công. Đặc biệt, khi đánh trúng mục tiêu này sẽ cắt đứt cầu hàng không của địch.

Tuy nhiên, có một yêu cầu rất quan trọng được đặt ra là khi tấn công vào sân bay phải bảo đảm an toàn cho trại Đa vít- cách đường băng khoảng 300 mét- là nơi có phái đoàn quân sự của ta đang làm việc.

Phương án vạch ra là phải đánh bom dọc đường băng, tuy hiệu quả thấp hơn khi đánh bom cắt chéo sân bay một góc 30 độ, nhưng độ tản mát của bom ra hai bên đường băng sẽ hẹp hơn, bảo đảm cho trại Đa vít được an toàn. Phương án xử lý tình huống khi tiêm kích địch phát hiện, cản phá đội hình của ta cũng được xác định rõ: Các số 4, 5 sẽ không chiến với địch; các số 1, 2, 3 bằng mọi giá phải tiếp cận và công kích trúng sân bay Tân Sơn Nhất.

Xuất kích bí mật, bất ngờ

Nhớ lại trận đánh năm nào, Đại tá Hán Văn Quảng nhận xét: “Một trong những nguyên nhân quan trọng, quyết định thắng lợi của trận đánh là phi đội đã bảo đảm được yếu tố bí mật, bất ngờ, từ lúc cất cánh đến khi ném bom”.

Để giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ, Bộ Tư lệnh Quân chủng PK-KQ đã yêu cầu sở chỉ huy các cấp và phi đội tuyệt đối không mở liên lạc vô tuyến điện trong quá trình bay.

Các ký, tín hiệu từ khi cất cánh đến tìm diệt mục tiêu đều được thống nhất: Khi vào cấp 1, đài chỉ huy bay bắn 1 phát pháo hiệu, phi công lên máy bay; bắn phát pháo hiệu thứ 2, phi công mở máy; bắn phát pháo hiệu thứ 3, phi công điều khiển máy bay lăn ra đường băng, quan sát, ổn định đội hình và cất cánh.

Do không được liên lạc bằng vô tuyến điện, nên phi công bay số 1 phải giữ đúng số liệu đường bay. Các số sau kiểm tra, nếu phát hiện số 1 bay không đúng đường bay thì số 2 có trách nhiệm vượt lên, lắc cánh, thay số 1 dẫn đội hình. Nếu số nào để mất đội hình thì phải bay giữ chênh lệnh độ cao.

Đúng 16 giờ 15 phút ngày 28/4/1975, phi đội 5 chiếc A-37 được lệnh chuyển vào cấp 1 và mở máy, xuất kích chiến đấu từ sân bay Phan Rang. Mỗi máy bay mang 4 quả bom loại 250 cân Anh. Sau khi xuất kích, phi đội bay dọc bờ biển, đến ngã ba sông Sài Gòn vòng phải, về sân bay Tân Sơn Nhất.

Để giữ yếu tố bí mật, bất ngờ, phi đội thực hiện nghiêm ngặt 3 quy định: Thứ nhất, bay trùng đường bay hằng ngày của máy bay địch, nhằm không để chúng nghi ngờ đó là máy bay ta; thứ hai, bay ở độ cao thấp, tránh bị ra đa địch phát hiện; thứ ba, không sử dụng hệ thống liên lạc vô tuyến điện mà chỉ sử dụng ký, tín hiệu.

Khi còn cách sân bay Tân Sơn Nhất khoảng 20km, toàn bộ phi đội phát hiện được sân bay. Các số thực hiện kéo dài đội hình, mỗi số cách nhau từ 600-800m và lấy độ cao lên 2.000m. Tiếp đó lần lượt từng chiếc bổ nhào vào công kích mục tiêu.

Dưới bụng máy bay, khói lửa từ sân bay Tân Sơn Nhất bốc lên mù mịt. Sau khi công kích, phi đội tiếp tục bay theo đội hình, hướng về sân bay Phan Rang và hạ cánh an toàn khi trời đã chập choạng tối. Tư lệnh Lê Văn Tri cùng các đồng chí lãnh đạo Quân chủng PK-KQ và anh em thợ máy chạy ùa ra, ôm chầm lấy các phi công trong niềm vui mừng khôn xiết. Trong trận đánh này, 26 máy bay địch đã bị phá huỷ, hàng trăm tên địch bị tiêu diệt.

Đại tá Nguyễn Văn Lục nhớ lại: “Khi chúng tôi tấn công vào sân bay Tân Sơn Nhất, địch hoàn toàn bất ngờ. Chúng hốt hoảng hỏi qua vô tuyến: “Máy bay của phi đoàn nào? Máy bay của phi đoàn nào? Cho biết phiên hiệu!”.

Trực tiếp chỉ huy trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất trên cương vị Tư lệnh Binh chủng PK-KQ, Trung tướng, Anh hùng LLVTND Trần Hanh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng khẳng định: Đó là trận đánh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ta đánh vào sào huyệt địch ngay trước ngày 30-4 khiến chúng hoang mang tột độ, đội hình rối loạn, đồng thời cắt đứt đường hàng không của địch, khiến chúng phải bỏ chạy tán loạn bằng đường bộ... Những yếu tố đó thúc đẩy nhanh chóng quá trình tan rã của ngụy quyền Sài Gòn.

Phạm Hoàng Hà

Các tin khác

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.

Từ con đường độc lập đến khát vọng vươn mình

Từ con đường độc lập đến khát vọng vươn mình

“Việt Nam thành công không chỉ vì đạt được thành tựu đáng chú ý, mà còn vì đã tìm ra con đường xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn quốc gia”, Đại sứ Trung Quốc Hà Vĩ chia sẻ. Còn với Đại sứ Liên minh châu Âu Julien Guerrier, trong 30 năm qua, mỗi lần ông đến Việt Nam đều cảm nhận sự đổi thay và tiến bộ rõ rệt...