Nhân đọc tập truyện ngắn “HỖN KỲ ĐÀI” của tác giả Tống Phước Bảo - NXB Hội Nhà văn, năm 2022

Phép cân bằng trong một ván cờ huề

Vài năm trở lại đây, Tống Phước Bảo nổi lên là một nhà văn dồi dào bút lực với văn phong đậm chất Nam bộ đặc trưng, ấn tượng, được thể hiện qua 8 đầu sách. Anh liên tục gặt hái nhiều giải thưởng văn chương danh giá.

Như: Giải Nhất cuộc thi truyện ngắn “Một nửa làm đầy thế giới” năm 2019, Giải thưởng truyện ngắn Báo Người lao động 2019, Giải Nhất tạp bút Báo Thanh niên năm 2020, Giải Nhất tạp bút Tập san Áo trắng năm 2020, Tặng thưởng truyện ngắn hay nhất năm 2020 của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Giải B Cây bút vàng năm 2021… Trong năm 2022 này, Tống Phước Bảo đã đặt một dấu mốc đáng nhớ và thêm một lần nữa khẳng định hành trình sáng tác bền bỉ của mình bằng việc ra mắt ba cuốn sách liên tiếp. Và để lại nhiều dư ba và suy ngẫm nhất trong số đó là tập truyện ngắn “Hỗn kỳ đài” do NXB Hội Nhà văn ấn hành.

z3561185395660_eadf84aeecfe391016ab4ad764374789.jpg -0
Bìa tập truyện ngắn “Hỗn kỳ đài' của Tống Phước Bảo.

Bằng lối viết nhẩn nha mà sâu lắng, phóng khoáng mà tỉ mỉ, giản dị mà trăn trở, gần 200 trang sách trong tập truyện “Hỗn kỳ đài” đưa độc giả bước vào những câu chuyện cảm động, đánh thức lòng trắc ẩn trong mỗi chúng ta. Hầu hết các truyện ngắn trong cuốn sách này đều viết về Sài Gòn. Một Sài Gòn có khi mộc mạc, bình yên, có lúc xô bồ, chen chúc đằng sau lớp ánh sáng phù hoa, lấp lánh.

Tác giả dành nhiều trang viết tái hiện Sài Gòn trong những ngày đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp với trăm ngàn nỗi gian nan, thắt ngặt. Thiếu lương thực, thực phẩm, thuốc men, thiếu đủ thứ. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, con người nơi đây vẫn ánh lên những nét tính cách nhân ái, gần gũi, chân thành, hào hiệp, bản lĩnh.

Tống Phước Bảo không xoáy sâu vào những bi kịch cùng cực mà chọn cách miêu tả cuộc sống gieo neo làm phông nền nhằm khơi lên ánh sáng của niềm hy vọng. Ở đó, tình yêu thương giống như một thỏi nam châm hút sức mạnh đoàn kết của tất cả mọi người về chung một mối để vượt qua chông gai, thử thách.

Đó là những ngày Sài Gòn bị lockdown trong “Mùa thương xanh phố”, người ta chia nhau vài quả dưa hấu, từng bó rau xanh. Tinh thần tương thân tương ái cùng nhau vượt qua đại dịch ấy tiếp tục được khắc họa đậm nét qua truyện ngắn “Từ trong bình yên” với những người dân nghèo tá túc tạm bợ ở một xóm trọ tồi tàn nhưng vẫn ngời sáng tấm lòng lương thiện với lời dặn đầy thương mến: “Mỗi người một phần gạo, mì gói, rau củ, chút cá, với mấy món đồ khô nhen. Phòng nào có em bé thì lấy thêm hai lốc sữa. Phòng nào có đông người thì lấy thêm hai phần nhen. Của ít lòng nhiều”. Hóa ra, những gian nan ấy chính là phép thử lòng người.

Và bình yên là khi chúng ta biết yêu thương, đùm bọc lấy nhau, như thông điệp tác giả muốn gửi gắm: “Giãn cách chứ đâu thể chia cách con người ta được, phong tỏa giới nghiêm nhưng chẳng thể nào giới hạn lòng người ta được”. Đó là những người đàn ông trong “Mấy thằng cha già ở xóm La Cà” chơi thân với nhau như anh em ruột, cứ gặp nhau là “cà chớn”, “tối ngày chê nhau”. Nhưng khi cần nghiêm túc để giúp đỡ người dân miền Trung trong cơn lũ lụt, họ đã chung tay góp sức và cứu trợ được nhiều người.

Tống Phước Bảo tỏ ra am hiểu rất sâu sắc về Sài Gòn. Gần hai chục năm gắn bó thành phố mười mấy triệu dân này, anh đã yêu Sài Gòn bằng trái tim thiết tha, nồng hậu. Bởi vậy, xuyên suốt cuốn sách này, ngòi bút của anh luôn hướng tới những phận người bé nhỏ trong các góc khuất của Sài Gòn, đang ngày đêm bươn bả, quăng quật ngược xuôi theo guồng quay mưu sinh hối hả.

Đọc truyện ngắn “Xóm mắc kẹt”, độc giả không khỏi mủi lòng trước cái xóm nhỏ, nơi “tám phương tứ hướng hội tụ, toàn dân nghèo mùa dịch. Dân thất nghiệp, lao động tự do, cơm áo gạo tiền, phòng trọ đành bất chấp đâm đầu thông chốt về tỉnh mình. Bị chặn lại, rồi tập hợp đưa về đây”. Tưởng như rơi vào tình huống oái oăm tiến thoái lưỡng nan ấy, con người sẽ rạc rài, rã rời vì đói khát. Vậy mà tiếng cười, tiếng hát lạc quan vẫn nảy mầm như được tưới tắm thứ phép màu kỳ diệu. Có thể sau này, họ sẽ vẫn giữ được sợi dây kết nối, hoặc có thể sẽ không còn cơ hội gặp lại nhau. Nhưng chắc chắn, ký ức đẹp và những nghĩa cử ấm áp dành cho nhau sẽ luôn thao thức mãi.

Không dừng lại tại đó, cuốn sách này còn hấp dẫn độc giả bằng những truyện ngắn mượt mà, lãng mạn về đề tài tình yêu đôi lứa. Có mối tình đắng cay, dang dở như Quyên với Thuần trong “Cuộc gặp”. Lại có những mối tình trọn vẹn trong cảm xúc bâng khuâng. Chàng trai ở ngõ Tạm Thương (Hà Nội) và cô gái Sài Gòn trong “Gặp Sài Gòn ở ngõ Tạm Thương” trải qua những khoảng cách về địa lý, trải qua những khoảnh khắc lưỡng lự, chênh vênh, cuối cùng họ cũng đến được với nhau. Bởi, “cứ còn thương thì chẳng sớm thì muộn, con người ta lại tìm về bên nhau mà thôi”.

Tình yêu của Mà Má và Bà Bá trong “Di bố phù” vừa hóm hỉnh, dễ thương, lại vừa miên man, lắng đọng được thể hiện tinh tế trên nền không khí truyện man mác nét u hoài. Bên cạnh đó, với truyện ngắn này, Tống Phước Bảo còn kín đáo đặt ra nhiều suy nghiệm về việc tiếp nối, giữ gìn và phát huy những nét văn hóa truyền thống của một gia tộc gốc Hoa tại Sài Gòn hoa lệ chuyên nghề may di bố phù, tràng phan...

Tạo nên sự đa dạng và thành công cho tập truyện “Hỗn kỳ đài”, không thể không nhắc tới “Bên rào khiết bông”, “Mùa đắm trăng son”, “Thiềng liềng ơi”, “Cái ôm”, “Mùa nở đóa hoa yêu”, “Cánh cửa họa mi”… Chẳng kịch tính, gay cấn, cũng không màu mè, hoa mĩ, điều tạo nên dấu ấn của các truyện ngắn này lại là sự giản dị, nhẹ nhàng mà thiết tha, lay động. Điểm chung cơ bản của các truyện ngắn này có lẽ là việc xây dựng hình ảnh những con người đầy kiên cường, nghị lực và trách nhiệm.

“Ông chú” trong “Mùa nở đóa hoa yêu” mải mê công việc đến quên cả yêu đương mà cho đến tuổi bốn mươi lăm mới dám tỏ tình với người mình thầm thương trộm nhớ rồi nhận về một cái kết ngọt ngào. Nhân vật Sơn trong “Thiềng Liềng ơi” sinh ra và lớn lên ở một xóm đảo nhỏ làm muối, trải qua bao kiên trì khổ luyện đã giành giải Nhất trong một cuộc thi điền kinh quốc tế, mang về niềm tự hào cho quê hương, xứ sở, khiến “thiên hạ hết cười, hết la, lại bắt đầu sụt sùi. Đâu ai bảo ai, tự dưng lặng im mà nước mắt rơi”…

Đặc sắc hơn cả trong cuốn sách này là truyện ngắn mà Tống Phước Bảo chọn làm tựa cho cả tập - “Hỗn kỳ đài”. Một truyện ngắn ngồn ngộn chi tiết, được cài cắm công phu quanh cốt truyện vững chắc, gay cấn, nhiều bất ngờ. Những trận cờ bất phân thắng bại. Những chiêu trò mánh khóe, đa mưu. Những luẩn quẩn nắm - buông, được - mất. Những dùng dằng giữa thù hận với thứ tha. Tất cả những điều đó đã được nhà văn 8X này dồn lại trong một truyện ngắn đầy sức nén cùng vốn kiến văn sâu rộng về nghệ thuật cờ tướng và kỹ thuật viết chặt chẽ, điêu luyện, ẩn dụ.

Cuộc cờ cũng chính là cuộc đời, có muôn vàn lựa chọn, muôn vàn lối đi, muôn vàn sự cám dỗ, muôn vàn sự biến thiên. Chẳng ai đoán trước được ngày mai ra sao, tương lai thế nào. Kẻ là đối thủ với mình hôm nay, ngày mai có thể là người tay ấp, má kề. Yêu đương nồng thắm của hiện tại không có nghĩa tương lai vẫn ngập tràn hạnh phúc. Để thấy rằng, khó nhất là trong cuộc đời là sự cân bằng, như việc duy trì một ván - cờ - huề!

15 truyện ngắn trong tập “Hỗn kỳ đài” là 15 mảnh ghép sinh động và xúc động về cuộc sống muôn màu. Đâu đó vẫn còn những cái kết chưa thanh thoát, tự nhiên, những phân đoạn sa đà vào phô diễn kiến thức, những màn hội thoại màu mè, những pha “mở nút” sắp đặt khiên cưỡng. Nhưng không thể phủ nhận rằng, Tống Phước Bảo đã thực sự nỗ lực để vừa làm mới mình, vừa định hình văn phong đặc trưng hơi thở Nam bộ. Và rồi, quan trọng hơn hết, điều còn lưu lại, chính là tình người thấm đẫm từng câu, gieo vào từng chữ.

Như anh chia sẻ: “Sài Gòn không có gì hết trơn, chỉ có cái tình mà ôm trọn con người ta vào lòng, dung dưỡng con người ta trọn vẹn cuộc đời trên mảnh đất này. Vậy nên, khi viết về Sài Gòn, tôi chọn nhiều góc cạnh, lát cắt, mảnh ghép để tạo nên một Sài Gòn đa dạng thành phần, cung bậc và dĩ nhiên, đầy đủ nhất vẫn là cái tình Sài Gòn”. Đúng thật vậy, gấp lại “Hỗn kỳ đài”, độc giả có quyền đặt niềm tin vào những sự bứt phá của anh trên hành trình văn chương phía trước!

Tôn Nữ Khả Di

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).