PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ: "Lịch sử vẫn còn nhiều khoảng mờ..."

Ông là người bận rộn, với chức phận của mình ở vị trí Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương. Nhưng thẳm sâu trong Nguyễn Thế Kỷ là một tâm hồn nghệ sĩ, một tâm hồn thơ, nặng lòng với lịch sử. Mấy năm gần đây, ông liên tục viết kịch bản cho sân khấu, và Nhà hát Cải lương Việt Nam luôn may mắn nhận được các kịch bản từ ông. Những vở kịch của ông chạm tới những góc khuất, thậm chí là điểm mờ trong lịch sử nhưng vẫn mang những thông điệp sâu sắc về cuộc sống hôm nay. PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ đã dành cho VNCA một cuộc trò chuyện khá vội vàng nhưng thú vị vào những ngày cuối năm.

- Trong mấy năm gần đây, ông liên tục có những kịch bản văn học được chuyển thể sang sân khấu cải lương gây tiếng vang, một "Mai Hắc Đế" huyền thoại, một "Chuyện tình Khâu Vai" lãng mạn, đầy chất thơ và bây giờ là một "Hừng Đông" bi tráng. Xin ông cho biết, ông đã bén duyên với cải lương như thế nào?

+ Cũng rất tình cờ, trong một chuyến đi Trường Sa từ năm 2012, trong đoàn tôi có hai nghệ sĩ cải lương. Lần đó, có cuộc phát động sáng tác thơ về Trường Sa của Đoàn công tác, tôi đã viết bài  thơ "Bâng khuâng Trường Sa", được nhiều người thích. Mấy nghệ sĩ đã lấy bài thơ đó về phổ thành một bài cải lương vọng cổ. Sau đó, họ sang xin tôi một số bài thơ để chuyển thể sang ca cải lương như thế.

Thấy rất có duyên, họ nhờ tôi viết kịch bản - vì thực tế sân khấu hiện nay của ta rất thiếu kịch bản, nhất là cải lương. Lúc đó tôi nghĩ không thể, đúng ra là chưa thể viết được vì quá bận. Nhưng trong đầu tôi đã có sẵn những thứ mình say mê, ấp ủ như Chuyện tình Khâu Vai, Nàng Tô Thị, rồi các nhân vật lịch sử luôn trở đi trở lại trong tâm khảm tôi như Mai Hắc Đế, Phan Bội Châu, Phan Đăng Lưu, ... Và tôi đã bắt đầu bằng "Chuyện tình Khâu Vai", không ngờ vở cải lương lại gây được tiếng vang, vì đó là một câu chuyện tình rất thơ, nhiều người đánh giá là "Romeo và Juliet" của Việt Nam.

Rồi đến cuối năm 2014, chính đạo diễn, NSƯT Triệu Trung Kiên lại muốn nhờ tôi viết tiếp kịch bản nữa. Thực ra đã có một đề tài nằm sẵn trong đầu tôi là cụ Mai Hắc Đế. Tôi cho rằng, lịch sử, hậu thế và các nhà khoa học chưa đánh giá đúng tầm vóc của cụ, thậm chí có những chi tiết và đánh giá sai về cụ. Như thế, chúng ta rất có lỗi lớn với tiền nhân, với lịch sử. Có rất nhiều khoảng mờ về cụ mà chúng ta cần làm sáng lên, rõ lên.

PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ.
PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ.

-Tôi cũng biết những nhân vật lịch sử trong tác phẩm của ông đều có những khoảng trống, những góc khuất mà các nhà khoa học chưa đánh giá đúng vị thế, vai trò lịch sử của họ. Vì sao ông lại chọn cụ Mai Hắc Đế và Phan Đăng Lưu?

+Tôi rất thích nghiên cứu lịch sử, nhất là những con người vĩ đại đã sinh ra trên chính quê hương xứ Nghệ của mình. Vì thế, tôi luôn bị họ ám ảnh. Họ là những con người có nhiều góc khuất, thậm chí hậu thế còn hiểu sai, hiểu nửa vời về họ. Những sai sót này không phải do tôi nhận ra mà từ sách vở lưu lại. Với cụ Mai Hắc Đế, con người đó tầm vóc lớn hơn những gì con cháu nghĩ về ông.

Cuộc khởi nghĩa Hoan Châu đã được chuẩn bị rất công phu cách đây 1300 năm. Và lần đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm, Mai Hắc Đế đã biết liên kết với Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân để đánh đuổi nhà Đường, theo chiến thuật bó đũa rừng cây cụm vào nhau mới chiến thắng. Ông còn bắt tay với nhóm Đường Lâm ở Sơn Tây, nhóm Điều Yêu ở Hải Phòng  để liên kết trong ngoài, tạo sức mạnh to lớn chống giặc ngoại xâm. Tầm vóc đó, trí tuệ đó lừng lẫy lắm chứ, vĩ đại lắm chứ, vậy nhưng sự hiểu biết của chúng ta còn hạn hẹp, nông cạn.

Vở diễn "Mai Hắc Đế" đã góp phần giúp mọi người thấy được tầm vóc của cuộc khởi nghĩa do Mai Thúc Loan-Mai Hắc Đế lãnh đạo. Còn với nhân vật Phan Đăng Lưu, ông là một người chịu nhiều hy sinh, nếu không nói là cả sự thiệt thòi. Lịch sử vẫn chưa công bằng với ông. Phan Đăng Lưu là một nhà cách mạng, một nhà báo, nhà văn tài hoa lỗi lạc, trong thời khắc quan trọng của lịch sử, tại cuộc họp Xứ ủy Bắc Kỳ, ông đã đề cử đồng chí Trường Chinh làm quyền Tổng Bí thư của Đảng, còn mình thì tự nguyện đi vào nơi máu lửa, nơi mà cái chết quá cận kề. Dù lúc đó, ông được tín nhiệm giới thiệu vào vị trí này. Ông là thành viên duy nhất của Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Trung ương đến thời điểm đó chưa bị giặc bắt.

Trong máu lửa, Đảng và các đảng viên của Đảng phải xả thân vì nhân dân, no đói, sống chết cùng nhân dân, vì nhân dân, vì đất nước. Và ông đã hy sinh như thế. Một “Hừng đông” được vẽ lên bằng máu, bằng lý tưởng sáng ngời của những trái tim yêu nước như thế.

- Vâng, tôi rất xúc động khi xem vở mới nhất của ông về nhà cách mạng Phan Đăng Lưu. Một đề tài tưởng chừng như khô cứng nhưng được chuyển tải một cách nhuần nhị, thấm thía.

+ Cách đây gần 20 năm, tôi đã viết bài báo đầu tiên về Phan Đăng Lưu. Trong số lãnh đạo tiền bối, ông là người học cao, biết rộng, có vốn ngoại ngữ tuyệt vời. Là một trí thức uyên thâm nên ông nhìn nhận các vấn đề rất sâu sắc. Vở kịch chỉ là một lát cắt trong cuộc đời ông thôi. Chính ông phát hiện ra rằng thời cơ khởi nghĩa Nam Kỳ chưa chín muồi, cần phải chuẩn bị kỹ hơn, cần chờ lúc Nhật và Pháp đánh nhau, lúc ấy khởi nghĩa mới thắng lợi. Ông đã thuyết phục các đồng chí ở Xứ ủy Nam Kỳ, nhưng phần đông vẫn sôi sục. Ông đành ra Bắc, trước hết là để triệu tập Hội nghị tái lập Ban Chấp hành Trung ương trên cơ sở tổ chức và nhân sự của Xứ ủy Bắc Kỳ; bầu đồng chí Quyền Tổng Bí thư của Đảng (lúc đó đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ vừa bị giặc bắt); xin chủ trương cho hoãn khởi nghĩa Nam Kỳ; đề nghị từ lúc đó, cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng nên đứng chân ở Bắc Kỳ.

Xong các việc lớn đó, ông vội vàng vào Nam  để hoãn khởi nghĩa nhưng không kịp, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra đêm 22 rạng sáng 23 tháng 11 năm 1940 và bị dìm trong biển máu. Dấn thân vào thời khắc đó, ông chấp nhận có thể sẽ phải hi sinh tính mạng.  Gia đình cụ Phan Đăng Lưu đến xem vở kịch đã khóc, khóc rất nhiều vì các tài liệu lịch sử và hậu thế chưa đánh giá đúng vai trò của ông, những đóng góp to lớn của ông, khóc vì sự hy sinh quả cảm, tự giác, bình thản đi vào nơi máu lửa của ông.

- Khai thác đề tài lịch sử để chạm tới trái tim khán giả quả là một con đường gian nan. Ông làm sao để giữ được tính chân thực của lịch sử mà vẫn hấp dẫn khán giả?

+Những nhân vật, những sự kiện đã đóng đinh trong lịch sử thì mình không thay đổi được. Nhưng có những "chiếc đinh" sai, hời hợt.. vẫn có thể thay thế. Sách giáo khoa lịch sử vẫn còn ghi cuộc khởi nghĩa Hoan Châu của Mai Thúc Loan năm 722. Như thế, mới nổ ra đã bị dập tắt, trong khi nhiều cuốn sách của ta và của Trung Quốc như "Đại Việt Sử kí Toàn thư", "Việt điện u linh", "Khâm định Việt sử thông giám cương mục", "Hương Lãm Mai Đế ký", "Đại Việt sử ký tiền biên", "Đại Nam thống nhất chí", "Lịch triều hiến chương loại chí", "Nghệ An ký", "Đại Nam thực lục", "Thiên Nam ngữ lục"…; các bộ sử Trung Quốc như Tân Đường thư, Cựu Đường thư, Tống sử giám, Quảng Tây thông chí…; một số tài liệu gần đây như Kỷ yếu Hội thảo khoa học kỉ niệm 1300 năm khởi nghĩa Hoan Châu (do Viện Hàn lâm KHXHVN phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An tổ chức tại Nam Đàn, Nghệ An năm 2013); Mai Hắc Đế, truyền thuyết và huyền thoại (tác giả Đinh Văn Hiến, Đinh Lê Yên)…đều ghi cuộc khởi nghĩa rất lớn này nổ ra năm 713, bị nhà Đường đưa đại quân sang đàn áp năm 722 và năm đó thành Tống Bình mới thất thủ.

Làm nghệ thuật, chúng ta có quyền hư cấu, biến tấu để lịch sử không bị "đóng băng", khô cứng, nhất là cho phép nhà văn mặc sức "nhào nặn" các nhân vật phụ. Trong vở "Mai Hắc Đế", tôi đưa nhân vật Vương Bột vào đối thoại với Mai Thúc Loan, không gian mờ ảo, huyền thoại, thấm đẫm chất văn hóa, dạt dào thi ca đã góp phần tạo nên tính hấp dẫn cho vở kịch. Tôi muốn gửi gắm một thông điệp rằng người Việt rất công bằng, ai đến đây xâm lược thì chúng tôi sẽ đánh cho không còn mảnh giáp, nhưng nếu họ đến với tư cách là sứ giả của thi ca, hòa bình thì chúng ta mở rộng vòng tay giao hảo, người có tài có đức được tôn thờ như Vương Bột chẳng hạn. Bằng chứng giờ vẫn có đền thờ Vương Bột ở Nghệ An.

Hơn nữa, những nhân vật tôi viết đều là những con người mà tôi đã đọc, nghiên cứu về họ rất sâu. Nó ngấm vào máu, trở thành nỗi ám ảnh của mình. Vì làm được điều trên, tôi luôn tôn trọng sự sáng tạo của đạo diễn, đồng ý để đạo diễn và ê kíp "phù phép", dù họ ít tuổi hơn mình, trong một góc nhìn nào đó, họ là cấp dưới của mình.

Điều này, theo tôi, không phải ai cũng có thể chia sẻ. Tất nhiên, tôi khá kỹ lưỡng trong công việc, khi dựng vở, tôi khuyến nghị và tạo điều kiện cho đạo diễn và diễn viên đi "thực tế" vùng đất, không gian mà nhân vật đã sống, hoạt động; tìm hiểu kỹ đời sống người dân nơi đó, ăn cơm, uống nước chè xanh, nghe họ hát dân ca, tạo cho họ hóa thân, nhập vai với nhiều xúc cảm, để tác phẩm không bị xa rời lịch sử, xa rời đời sống. Họ đã đi hàng trăm km lên tận Đồng Văn- Mèo Vạc để thấm, hiểu, thậm chí vui buồn, đớn đau, hạnh phúc với "Chuyện tình Khâu Vai", rồi về Nam Đàn - Nghệ An để hiểu về cụ Mai Hắc Đế, những người thân trong gia đình cụ cách nay 1300 năm; về Yên Thành, Nghệ An để hiểu về thân thế, quê hương, sự nghiệp của cụ Phan Đăng Lưu…

Các diễn viên chính trong vở cải lương “Chuyện tình Khâu Vai”.
Các diễn viên chính trong vở cải lương “Chuyện tình Khâu Vai”.

- Những câu chuyện ông viết về các nhân vật lịch sử từ rất lâu rồi nhưng vẫn mang thông điệp của thời đại như tinh thần đoàn kết các vùng miền, dân tộc, đoàn kết quốc tế, sự xả thân vì đất nước của những người lãnh đạo. Phải chăng, đó là cốt lõi trong sức sống của những tác phẩm của ông?

+ Từ tư tưởng của cụ Mai Hắc Đế, sự liên kết trong ngoài để đánh đuổi ngoại xâm, đến cụ Phan Đăng Lưu, gần chúng ta hơn, đều cho thấy họ là những con người xả thân vì đất nước. Như Bác Hồ từng nói, Đảng không có một lợi ích nào khác ngoài  hạnh phúc của nhân dân,  thế  hệ của Bác, của các nhà cách mạng tiền bối như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu, họ là những người khi đi làm cách mạng là cầm chắc chuyện tù đày, cầm chắc cái chết, nhưng lòng rất thanh thản. Họ sẵn sàng xả thân vì một lý tưởng rất cao đẹp. Thực tế, không ai làm vấy bẩn Đảng bằng chính các đảng viên vì những toan tính thấp hèn.

Từ Đại hội XII trở về trước, chúng ta đã có một chặng đường dài hơn 80 năm của Đảng, 30 năm Đổi mới của đất nước. Đây là thời điểm chúng ta nhìn lại, soi mình trong mắt người dân. Nếu Đảng cùng sống chết với dân, no đói với dân, vui buồn với dân thì Đảng mới là lực lượng lãnh đạo có uy tín của cách mạng, Đảng của Dân, "lòng dân yêu Đảng như là yêu con" câu thơ của Tố Hữu hay quá, sâu sắc quá, "đời" quá! Làm sao Đảng dám xả thân vì nhân dân, như cụ Mai Hắc Đế, như nhà cách mạng Phan Đăng Lưu. Sự hy sinh của các tiền nhân nhẹ tựa lông hồng, họ coi cái chết rất thanh thản, chết vì dân và sống cũng vì dân. Điều này, có thể giờ mọi người coi là sáo mòn, nhưng nếu anh nói bằng con tim, khối óc rất tỉnh táo thì không hề sáo rỗng.

- Ở vị trí của ông, công việc rất bận rộn, ông dành thời gian lúc nào cho sáng tạo?

+ Tôi thường viết sau 22h đêm, mọi người đi ngủ thì tôi làm việc. Tôi quen với việc thức muộn đến 1-2 sáng. Làm những vở lịch sử, công đoạn sưu tập, xử lý tài liệu rất công phu, kỹ lưỡng, còn khi viết lại khá nhẹ vì mình đã ngấm và hiểu sự kiện, nhân vật, bối cảnh lịch sử, đã hóa thân vào câu chuyện. Tuy nhiên, tôi cũng bị áp lực rất lớn khi viết. Vì công việc hiện nay tôi đang gánh vác, nếu viết sai, viết dở, viết ẩu, chắc là "búa rìu" dư luận cũng nhiều hơn, nặng hơn.

- Có lúc nào ông thấy con người chính trị mâu thuẫn với con người sáng tạo trong ông hay không?

+ Tôi có một bản tự kiểm điểm vui bằng thơ, xin nói rõ là khá tếu táo, tự giễu mình là chính, cho vui, mở đầu bằng "Ngẫm mình công ít tội nhiều/ gặp người má thắm dễ liêu xiêu lòng/ Công danh tạm gọi là xong/ Tình tang, thơ thẩn đèo bòng chưa qua…”. Thơ thì ít, thẩn thì nhiều, ai nghe, xin đại xá!

- Có lẽ chừng ấy cũng đủ hiểu con người ưu thời mẫn thế trong ông. Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện.

Hà Bình (thực hiện)-Xuân 2016

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).