Ông Nguyễn Cao Kỳ và chuyến đầu tiên trở lại cố hương

Năm 2004, khi ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó Tổng thống Chính quyền Sài Gòn từ Mỹ trở về nước lần đầu tiên sau gần 30 năm lưu lạc ở nước ngoài, Ban Biên tập Báo CAND cử tôi tiếp cận, phản ánh về sự kiện này.

Thời điểm 18 năm trước, đây là sự kiện thu hút mối quan tâm không chỉ trong nước mà cả bà con người Việt ở nước ngoài. Một ông tướng râu kẽm từng lưu bút vào quả bom trước khi máy bay Mỹ giội xuống miền Bắc Việt Nam - nơi có thị xã Sơn Tây quê hương ông; một Phó Tổng thống khét tiếng “chống cộng”, một cựu binh Việt Nam Cộng hòa từng là “biểu tượng” của những người chống đối Nhà nước Việt Nam sau 1975… bỗng nhiên trở về cố hương! 

Lịch trình hoạt động của ông Nguyễn Cao Kỳ và vợ trong chuyến trở về cố hương năm ấy khá kín đáo. Một buổi sáng mùa Xuân, tôi bám theo chiếc ôtô chở ông Nguyễn Cao Kỳ chạy theo hướng chùa Hương. Đến bến Đục, tôi lặng lẽ lên con đò di chuyển cách không xa đò chở ông Nguyễn Cao Kỳ đang bơi dọc suối Yến, thăm lại chùa Hương - nơi mà năm 1930, cụ Nguyễn Văn Hiếu cùng vợ đã đi cầu tự cửa Phật rồi sinh được người con trai, đặt tên là Nguyễn Cao Kỳ.

Con đò của tôi đi sát con đò của ông giữa hàng trăm con đò ngược xuôi trên suối Yến trong chuyến hành hương về đất Phật. Ông Kỳ ngồi trầm ngâm, vóc dáng  khỏe mạnh, ánh mắt nhìn xa xăm. Đầu ông đội mũ mềm, không đeo kính, có lẽ để được nhìn rõ hơn dòng suối quê hương và tưởng nhớ chuyến hành hương của thân phụ cách đây hơn 70 năm.

Người chèo đò của ông, người chèo đò của tôi và hàng vạn bà con người Việt lúc ấy hẳn không ai biết vị cựu Phó Tổng thống chính quyền Sài Gòn đang thả hồn mình giữa sông nước quê hương...

Ông Nguyễn Cao Kỳ và chuyến đầu tiên trở lại cố hương_SỐ ĐB_30/4_T13 -0
Ông Nguyễn Cao Kỳ và vợ (góc trái ảnh) thăm Suối Yến, Chùa Hương.

Trong bản tự khai lúc là Thiếu tướng không quân chế độ Sài Gòn, ông Nguyễn Cao Kỳ sinh ngày 8/9/1930 tại thị xã Sơn Tây, nay thuộc TP Hà Nội, là con trai duy nhất trong gia đình ba người con. Sau này trong những cuộc chuyện trò bên bàn trà, quán rượu, ông từng kể một cách mê hoặc rằng, ông được sinh ra là do người cha Nguyễn Văn Hiếu và mẹ là Phùng Thị Chung đi chùa Hương cầu tự mà thành.

Thân phụ của ông Nguyễn Cao Kỳ làm nghề dạy học, nhưng thích lãng du, cụ thường lên miền sơn cước tìm thú vui mạo hiểm và lánh xa mọi hoàn cảnh có thể dẫn đến việc tiếp xúc với người Pháp. Suốt những năm ba mươi và bốn mươi của thế kỉ trước, gia đình cụ Nguyễn Văn Hiếu chưa phải là cơ sở của cách mạng, nhưng bản thân cụ lại là một đầu mối liên lạc của lực lượng du kích chống Nhật. Cụ từng tâm sự với con trai Nguyễn Cao Kỳ về căn cứ địa Việt Bắc, về lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Theo một số người thân tín với ông Nguyễn Cao Kỳ kể lại thì ông Kỳ từng trốn nhà lên chiến khu tìm Việt Minh, nhưng việc không thành và suýt bỏ mạng vì bị Pháp bắt được khi đang đói lả bên bờ suối. Thuở nhỏ, ông Nguyễn Cao Kỳ được gia đình cho ăn học đến nơi đến chốn, từng học xong tú tài tại Trường Bưởi, Hà Nội. Đến năm 1952, ông Kỳ đi lính cho Pháp, vào trường đào tạo sĩ quan trù bị khoá 1 ở Nam Định để phục vụ cho việc thành lập quân đội bảo hoàng của Bảo Đại.

Rất có thể, nếu ông Nguyễn Cao Kỳ không bị Pháp bắt lại trong chuyến bỏ Trường Bưởi lên chiến khu theo Việt Minh thì cuộc đời ông đã đi theo một hướng khác. Nói thế để thấy rằng, khi xem xét nguyện vọng của ông và nhiều bà con ta ở Mỹ về thăm quê, các cơ quan chức năng Việt Nam hẳn đã lưu ý đến những chi tiết thời thế này.

Cùng theo dòng thời gian, nhiều người trong chúng ta và cả bà con sang Mỹ, sang nhiều nước khác sau ngày 30/4/1975 càng thêm hiểu hoàn cảnh khách quan của lịch sử, những biến thiên của cuộc đời mỗi con người... Nhiều người hiểu ngày thống nhất đất nước là chiến thắng chung của cả dân tộc, chiến thắng ngoại bang đô hộ. Lòng người chung khát vọng dân tộc là trường tồn, đất mẹ là thiêng liêng.

Vì thế chúng ta mới dễ hiểu khi đón tiếp ông Nguyễn Cao Kỳ trong chuyến trở lại cố hương lần đầu tiên, nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao đều tỏ rõ sự mến khách, nhất quán tinh thần đại đoàn kết dân tộc, khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. Một đồng chí lãnh đạo đã cởi áo để uống “tới bến” với người con cầu tự đất Sơn Tây. Trong bữa cơm thân mật có cả lẩu rau cần, rau sắng chùa Hương, ông Phạm Thế Duyệt, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nâng cốc bia hơi nói với ông Nguyễn Cao Kỳ: “Ông hơn tuổi tôi, trong bữa cơm chiều này, tôi xin phép gọi anh, xưng tôi cho nó tình cảm!”… Ông Nguyễn Cao Kỳ đã nheo mắt cười và vui vẻ đồng ý.

Ông Nguyễn Cao Kỳ và chuyến đầu tiên trở lại cố hương_SỐ ĐB_30/4_T13 -0
Tác giả (bìa phải) trao đổi với ông Nguyễn Cao Kỳ.

Không chỉ thời điểm ông Nguyễn Cao Kỳ trở về thăm quê hương, mà trước đó nữa, bà con người Việt ở nước ngoài, kể cả những người một thuở “phía bên kia cầm súng khác” (thơ Lưu Quang Vũ) đã vượt qua lời nguyền để trở về Tổ quốc.

Một số cựu lãnh đạo từng có vị trí cao của chế độ Việt Nam Cộng hòa tâm sự mới đây với một kiều bào bạn tôi ở Mỹ: “Chúng tôi không sợ mất nhà mất cửa. Điều chúng tôi thấy thỏa lòng là đất nước thống nhất. Vì kiểu gì cũng phải thống nhất. Phía miền Bắc làm được điều đó, chúng tôi chấp nhận vì Tổ quốc là của chung”. Như thế, có một không khí thân thiện, một tâm hồn hóa giải, một suy nghĩ hòa hợp lan truyền trong tâm thế của mọi người Việt Nam nói chung. Người Việt không biên giới, tiếng Việt muôn nơi tựu một tấm lòng, tất cả đã và sẽ hướng về cội nguồn.

Những năm gần đây, bà con người Việt trên khắp thế giới về thăm quê hương ngày càng đông. Nhiều kiều bào tâm sự với tôi rằng, khi họ vừa bước xuống sân bay quê nhà, lòng bỗng trào dâng cảm xúc yêu da diết Tổ quốc mình, thấy mình có điểm tựa vô hình mà vững chãi, thấy tự tin mình là người Việt Nam - điều mà bao năm bôn ba ở xứ người chưa từng có cảm  giác ấy.

Nhiều lần kiều bào ta được Nhà nước tổ chức ra thăm Trường Sa, được hòa vào tiếng sóng biển Đông, chạm tay vào cột mốc để cùng tin tưởng, cùng bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc thiêng liêng. Nhiều bà con ta ở nước ngoài khi đến các đảo, đá, nhà giàn ở Trường Sa đã xúc động ôm chặt những người lính đảo, tin tưởng hơn vào ý chí và quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta kiên quyết, kiên trì bảo vệ từng tất đất, từng khoảng trời, vùng biển từng thấm máu ông cha gìn giữ lại cho ta. Đó là thực tế khiến những thông tin không đúng, những sự xuyên tạc, vu khống đều trở nên lạc lõng, vô ích. 

Đã 47 năm ngày thống nhất đất nước, ngày chiến thắng chung của dân tộc Việt Nam, nghĩa là đã hơn hai thế hệ của một đời người, bà con ta ở nước ngoài dường như tấm lòng đã trăm sông đổ về biển cả quê mẹ. Tuy đâu đó vẫn còn tiếng nói lạc lõng, đâu đó vẫn còn những kẻ xấu, chống phá nhà nước, nhưng số ít ỏi ấy không thể ngăn được lòng người Việt bốn phương hóa giải, hòa hợp để chung sức xây dựng Tổ quốc Việt Nam lớn mạnh, trường tồn.

Việt Nam đã 2 lần tham gia Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, đã điều hành thành công và có uy tín phiên họp Đại hội đồng của tổ chức lớn nhất thế giới khiến ông Tổng Thư  ký Liên hiệp quốc Antonio Guterres thốt lên: “Ngày xưa tôi đi biểu tình chống chiến tranh, ủng hộ Việt Nam. Nay lại được ngồi nghe người đại diện Việt Nam điều hành phiên họp”, quả là vật đổi sao dời.

Tôi bỗng nhớ tới lời bài hát “Tiếng Việt” của nhạc sỹ Lê Tâm phổ thơ Lưu Quang Vũ mà mỗi lần nghe sao mà thao thiết: “Mỗi sớm dậy nghe bộn bề tha thiết/ Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi/ Như vị muối chung lòng biển mặn/ Như dòng sông thương mến chảy muôn đời”.

Lại nhớ lời một nhà văn nào đó từng nói: Người ta có thể đưa một con người ra khỏi quê hương. Nhưng không ai có thể đưa quê hương ra khỏi một con người.

Nhiều kiều bào tâm sự với tôi rằng, khi họ vừa bước xuống sân bay quê nhà, lòng bỗng trào dâng cảm xúc yêu da diết Tổ quốc mình, thấy mình có điểm tựa vô hình mà vững chãi, thấy tự tin mình là người Việt Nam - điều mà bao năm bôn ba ở xứ người chưa từng có cảm  giác ấy.

Thiếu tướng - Nhà văn Nguyễn Hồng Thái

Các tin khác

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.