"Ông Ba Mươi" - nhìn từ phê bình sinh thái!

Khi mà môi trường sinh thái toàn cầu sa vào tình trạng khủng hoảng, rừng bị chặt, bầu khí quyển bị đầu độc, nước nguồn bị cạn, trái đất nóng lên, đa dạng sinh học bị vi phạm nghiêm trọng... nhân loại đứng trước bao nguy cơ mất an toàn, phê bình sinh thái (Ecocriticism) ra đời như là một giải pháp, dù mang tính tình thế còn hơn không.

Con người đang tự chặt cái cây mà mình ở trên đó, phê bình sinh thái như một tiếng kêu cảnh tỉnh: Đừng tự giết mình, hãy dừng lại... Đang mải mê với niềm hạnh phúc tán dương, ca ngợi con người là “chúa của muôn loài”, là “trung tâm của vũ trụ”, nhờ ánh sáng của phê bình sinh thái, văn học hiện đại giật mình trước chân lý: Tự nhiên mới là trung tâm! Con người thật đáng quý, trí tuệ và hùng mạnh nhưng con người vẫn phải sống trong ngôi nhà tự nhiên, ngôi nhà ấy sụp đổ thì...!!! Phê bình sinh thái lại soi về quá khứ để con người giật mình: Ngày xưa nhân loại sống hài hòa với tự nhiên!

Phân bố chủ yếu ở châu Á, với đặc tính loài rất đặc trưng nên được văn hóa xứ này nhất trí coi là một biểu tượng cơ bản đa dạng về nghĩa, xin được lấy hình tượng hổ để chứng minh vấn đề trên.

Hổ trông giữ đền thờ Ấn Độ!
Hổ trông giữ đền thờ Ấn Độ!

Những năm cuối thế kỷ XX ở một miền núi xa xôi phía Tây Ấn Độ, đột nhiên thú rừng nai, hươu, lợn rừng..., nhất là lợn rừng nhiều vô kể tràn xuống những mảnh đất canh tác ít ỏi phá hoại hoa màu. Không làm sao người ta xua đi được những đàn lợn rừng đen trũi phàm ăn tràn cả vào vườn nông dân. Những điều này trước đây chưa hề có. Các nhà khoa học vào cuộc mới vỡ ra cái lý do: Vì người ta đã giết gần hết loài hổ. Không còn kẻ thù nên các loài, nhất là lợn rừng sinh sôi vô tội vạ...

Thì ra con người là kẻ thù của chính họ, đã làm mất đi một đối trọng của tự nhiên. Hiện tượng này lặp lại ở nhiều nơi như Myanmar, Bangladesh, Trung Quốc... Con người vội vàng ghi tên “hổ” vào “Sách đỏ” bởi đó là một loài thú có ích trong việc cân bằng sinh thái... Theo các nhà sinh vật học, xứng danh là “chúa sơn lâm”, hổ còn ý nghĩa cân bằng các loài thú ăn thịt khác tạo số lượng vừa đủ, hài hòa trong cuộc cạnh tranh sinh tồn!

Con người mới giở lại lịch sử văn hóa càng thấy cha ông họ đối xử với loài hổ nhân văn, đạo lý hơn và cũng trí tuệ hơn bây giờ nhiều.

Hầu hết tập quán các nền văn hóa châu Á đều coi hổ là con vật linh thiêng có vị trí chúa tể của núi rừng. Là loài dũng mãnh nhất trong muôn thú, danh từ hổ đều được gắn liền với bổ ngữ “thiêng” đi kèm: hổ thiêng, hùm thiêng, được tôn là linh vật trong 12 con giáp, tượng trưng cho sức mạnh và sự uy linh, trấn giữ cửa ải ngũ phương, có khả năng chống lại tà ma. Sự sùng bái đến mức mê tín, có nơi quan niệm đàn ông sinh vào năm hổ (Dần) sẽ có tính khí mạnh mẽ, có năng lực “làm chúa”, ngày đầu năm được mời “xông nhà” để gia chủ “ăn nên làm ra”, nhất là không sợ hổ thật đến quấy nhiễu (!?).

Thần thánh hóa như vậy nên xuất hiện tập tục thờ hổ haythờ thần hổ đã đi vào tín ngưỡng dân gian như lẽ tự nhiên. Thậm chí một số dân tộc còn tôn thờ hổ như thần giám hộ bảo vệ cuộc sống. Nhiều quốc gia, cộng đồng lấy hình ảnh con hổ làm vật tổ, làm biểu tượng. Được thiêng hóa nên tên gọi của loài vô cùng phong phú. Ngay ở Việt Nam cũng rất nhiều danh xưng thường đi kèm với một danh tính ngữ tôn kính: Ông Hổ, ông Cọp, ông Hùm, ông Kễnh, ông Hầm, ông Ba Mươi, ông Khái...

Người ta quan niệm không được kêu đích danh “con hổ” mà phải gọi chệch đi để “Ngài” khỏi giận (!). Thế nên lại có nhiều cách gọi khác: Ba Cụt (cọp ba chân), Ba Ngoe (cọp ba móng), Ông Thầy (cọp thành tinh), Ông Ba bị... Có nơi căn cứ vào màu lông còn gọi ông Mun, ông Gấm... Và tất nhiên còn là các tên Mãnh chúa rừng xanh, Chúa tể rừng xanh, Sơn quân chúa xứ, Sơn quân mãnh hổ, Sơn lâm đại tướng quân, Sơn quân chúa động,... Trong số các tên này thì cái tên “ông Ba Mươi” ấn tượng hơn cả.

Theo truyền ngôn dân gian, có mấy cách lý giải: Hổ sống thọ 30 tuổi; thường hay rình mò nhà dân vác lợn, chó... vào đêm 30 Tết; có thù oán gì thì chỉ đi ba mươi bước là quên hết (tức rất vô tư, trượng nghĩa). Lại có truyền thuyết kể, thời gian nan, khi hết lương thực, may mắn Nguyễn Ánh được hổ cho thịt thú rừng. Khi lên ngôi, nhớ ơn, vua cho lập miếu thờ và ra lệnh ai giết hổ bị phạt 30 trượng, ai báo kẻ phạm tội được thưởng 30 quan tiền...

Kể sơ sơ như vậy đủ thấy hổ được tôn trọng đến mức nào. Chưa kể các tập quán lập cả đền thờ riêng, rồi vẽ tranh thờ làm bùa chú để mời gọi khí tốt, đuổi đi khí xấu. Trong phong thủy châu Á nơi thắng địa phải có yếu tố bắt buộc là “tả thanh long, hữu bạch hổ” tức rồng xanh bên trái, hổ trắngbên phải. Tục thờ Mẫu Việt Nam gắn liền với tranh ngũ hổ với 5 màu sắc khác nhau. Tạo hình dân gian cũng có bức tranh 5 ông hổ châu tuần quanh điện thờ. Trong chùm truyện về vua Hùng thì có khảo dị người mẹ sinh ra Thánh Gióng vốn dòng dõi hổ, để rồi truyền thuyết này tượng hình thành vị thần Hổ tức Mẹ Thánh Gióng thờ ở đền Trình (Hương Sơn - Mỹ Đức - Hà Nội).

Là biểu tượng của sức mạnh, uy vũ, hình thể oai linh đẹp một cách uyển chuyển nên hổ đi vào không gian văn hóa quân sự nhằm tôn lên thanh thế. Nhiều vua Trung Quốc, Mông Cổ thích ngồi ghế bọc da hổ, hai chân trong tư thế kẹp đầu hổ. Còn dùng cả tên gọi: Trong “Tam quốc diễn nghĩa” có“ngũ hổ tướng”. Lãnh tụ khởi nghĩa ở ta là Hoàng Hoa Thám tự/được mệnh danh là “Hùm thiêng Yên Thế”. Các võ tướng có phù hiệu, ấn tín “hổ phù” (khắc hình đầu hổ). Nơi bàn việc quân gọi là “trướng hùm”: “Trướng hùm mở giữa trung quân” (Kiều). Những nét văn hóa ấy đều có căn cứ từ “mẫu gốc” là hổ không chỉ uy dũng còn có trí khôn “phân tích” đối tượng, quyết đoán, tính kiên nhẫn, biết chờ đón cơ hội, biết che giấu mình, biết bung hết sức vồ mồi đúng lúc...

Hổ trong tự nhiên!
Hổ trong tự nhiên!

Những khía cạnh trên có thể khái quát vào phạm trù “sinh thái văn hóa nhân văn”, từ sinh thái tự nhiên đi vào, chiều vào, phổ vào sinh thái văn hóa. Từ quan niệm ấy người ta còn thấy hổ gần gũi, như là bạn của người; tình cảm, ân nghĩa.

Trong văn học dân gian và cổ trung đại phương Đông, hầu như nước nào cũng có môtip hổ sống chung, là bạn, ân tình, ân nghĩa với người. Trong cổ tích người Việt “Trí khôn của ta đây” lý giải vì sao lông hổ vằn vện và trâu không có hàm trên. Bóc cái vỏ “cổ tích” thì hạt nhân hợp lý của nó vẫn là sự gần gũi người với vật, kể cả loài ăn thịt là hổ. Chú hổ trong câu chuyện hiện lên như một con người thật thà ngốc nghếch. Cũng là bài học: thật thà ngốc nghếch thì dễ bị lừa... Nhưng trong “Cóc kiện trời” thì hổ lại rất khôn và là nhân vật quan trọng trong “đội quân loài vật” “gây sức ép” buộc Ngọc Hoàng phải điều đình...

Truyện Nôm “Tống Trân - Cúc Hoa” có chi tiết Sơn Thần biến thành mãnh hổ mang thư Cúc Hoa sang nước Tần. Trong “Thoại Khanh - Châu Tuấn” thì hổ cõng Thoại Khanh và mẹ chồng sang tận nước Tề tìm chồng. Trong truyện “Lục Vân Tiên” (Nguyễn Đình Chiểu) hổ như người anh hùng trượng nghĩa, quân tử giúp cởi trói cho tiểu đồng rồi đưa Vân Tiên ra khỏi hang, bắt đi kẻ xấu là hai mẹ con Thể Loan... Chùm truyện cười “Bác Ba Phi”, hổ cũng như người, ăn ở, làm việc (xay lúa, giã gạo)... Hổ như người, lẽ nào người lại tiêu diệt hổ?

Hầu hết mọi nền văn học châu Á có môtip hổ nắm bắt bí mật của tự nhiên. Tương tự như truyện Ấn Độ, Indonesia...ở ta có truyện “Thằng Cuội” kể Cuội vào rừng bắt gặp hổ mẹ chữa cho hổ con đã chết bằng lá cây. Cuội liền bứng cây ấy về trồng làm thuốc cứu người cứu vật. Thì ra hổ là “bậc thầy” chữa bệnh mà con người phải học tập!

Càng về thời hiện đại hổ càng thưa vắng, hẳn nhiên thưa vắng cả trong văn học. Năm 1937, nhà vănTchya cho in tiểu thuyết “Thần Hổ” kể chuyện theo luật nhân quả người giết hổ sẽ bị hổ giết lại. Theo phong cách kỳ ảo, Lan Khai trong “Truyện đường rừng” (1940) lại kể người hóa hổ, người và súc vật có thể hóa kiếp cho nhau... Các tác phẩm này gián tiếp kêu gọi con người phải hòa hợp với tự nhiên. Sau này Nguyễn Huy Thiệp có truyện “Trái tim hổ” (1987) lên tiếng giữ lấy sự toàn vẹn của tự nhiên, vì nhờ tự nhiên mà con người mới tồn tại...

Không ngờ lời con hổ trong “Nhớ rừng” của Thế Lữ “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu?” lại “điểm trúng huyệt” phê bình sinh thái: Ước gì còn nhiều hổ để giữ cân bằng tự nhiên, cân bằng cả trong lòng người!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).