Nửa thế kỉ chợ lá gói Tết về nhà

Trong kí ức của người Sài thành, phiên chợ lá Ông Tạ là nơi đầu tiên đất này nhắc nhớ dân phố thị về một đoạn thời gian ngắn nữa là năm hết Tết đến. Nửa thế kỉ trôi qua, chợ lá vẫn theo mùa tìm về, bán buôn nhộn nhịp, người quen kẻ lạ nhưng cùng chung một tâm thức giữ gìn nét văn hóa dân dã giữa thời đại liến xáo khiến nhiều nét đẹp cổ truyền đã mai một.

Từ chợ lá giữ hồn quê xứ

Tôi về ngang chợ lá một tối muộn của ngày cuối tuần, bây giờ đã qua rằm tháng chạp, nhiều sạp hàng chợ lá đã bày bán, đèn thắp sáng choang cả con đường Cách mạng Tháng Tám, ngay cái ngã ba trứ danh Sài thành mà dân xứ này hay gọi Ông Tạ. Một khu vực của người miền Bắc xuôi vào Nam lập thân những năm 1954 chọn định cư, tạo nên tập tục gói bánh giữ hồn quê xứ khiến chợ lá hình thành và đi qua biến thiên thời cuộc vẫn tồn tại như một bản sắc của đô thành phồn hoa bậc nhất nước này.

cho-la-dong-ong-ta.jpg -1
Chợ lá dong Ông Tạ ở Sài Gòn.

Thời trước 1975, ngã ba này là giao lộ của đường Lê Văn Duyệt và Thoại Ngọc Hầu. Bây giờ là Cách mạng Tháng Tám và Phạm Văn Hai. Nhưng, với những cư dân sinh sống tại mảnh đất nắng ấm phương Nam này, có khi đọc cái tên đường lại chẳng thể định hình được trong đầu. Chỉ cần nói ngã ba Ông Tạ là thiên hạ biết ngay vị trí, chạy một mạch tới đúng cái ngã ba sầm uất bán buôn, đặc biệt là những món hàng phục vụ người gốc Bắc ở TP Hồ Chí Minh.

Kì thực, Ông Tạ chính là Lương y Trần Văn Bỉ (1918 - 1983) quê Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang). Sau khi tu và học nghề thuốc ở núi Bà Đen (Tây Ninh), ông về Sài Gòn, ngang qua cái ngã ba có tháp canh của lính Pháp thì nhận thấy đất này có một vị trí thuận lợi do có chùa và xung quanh đều là đất trống, nên chọn một góc làm điểm khám chữa bệnh. Thời Pháp, nơi đây được xem là cửa ngõ để kiểm soát dân từ Củ Chi, Hóc Môn tiến vào thành đô, nên được đặt tên ngã ba Tháp.

Với kiến thức học được trên núi ông đã dùng những cây thuốc nam chữa bệnh và chuyên chữa cho trẻ con và phụ nữ. Ông nổi tiếng mát tay và thiện tâm. Hiệu thuốc đông y Thủ Tạ đặt ngay góc ngã ba đường thường xuyên chữa bệnh cho người nghèo, phía ngoài có để thùng nhôm để mọi người bỏ tiền lẻ vào giúp đỡ những hoàn cảnh ngặt nghèo đường sá xa xôi có lộ phí đi về chữa bệnh. Tiếng tăm ông thời ấy lan xa khắp Nam kỳ lục tỉnh. Dần dà thiên hạ khắp nơi truyền miệng nhau gọi nhanh, gọi tắt để dễ nhớ nên góc ngã ba đấy định danh Ông Tạ trong lòng người dân.

Người Bắc di cư đến và sống quần tụ tại khu vực này, giữ nếp xưa tục cũ nấu bánh những mùa Tết, lá dong theo đó mà cập bến khu này, ban đầu là từ Bà Điểm (Hóc Môn), rồi Gia Kiệm (Đồng Nai). Sau này, khi đường sá giao thông phát triển, lá từ Bảo Lộc (Lâm Đồng) chuyển xuống, lá từ ngoài Bắc cũng được chuyển vào khu chợ này để phục vụ cho số lượng lớn thị dân cần mua để gói bánh mùa Tết. Không những lá dong, còn dây lạt, lá chuối, ngày nay thêm khuôn gói bánh. Dân thị thành gói bánh chưng hay bánh tét đều tìm về chợ lá như một nơi mặc định trong tâm trí mình. Cứ vậy mà theo thời gian, cái chợ lá họp theo mùa, ngay trên vỉa hè của đoạn đường, không ai quản lý, không chịu tiền mặt bằng chi hết, từ rằm tháng chạp đến tận sáng 30 âm lịch nhộn nhịp thanh âm nói cười đến tận nửa khuya về sáng.

Đến nếp quen vọng Tết thị dân

Tôi nhớ ngoại mình từng nói từ trên cao nhìn xuống thành phố này như tàu lá. Đầu lá là chót miệt Củ Chi. Cuống là nằm tận Cần Giờ. Đoạn cuối ngoặt cong ra biển Đông. Một chiếc lá khổng lồ ôm trọn thành phố với những gân lá là chi chít các con đường, các đại lộ lẫn những hẻm nhỏ dọc ngang thị thành này. Cái đặc trưng của Sài thành kì thực nếu cho ngoại chọn đó là lá. Ngoại sinh thời Pháp, sống thời Mỹ, học Petrus Ký, những lần xuống đường bị bố ráp cũng núp vào những hàng cây xanh rì màu lá mà trốn. Những lần hành quân cũng đắp lá ngụy trang để băng rừng lên tận Tây Nguyên hay ngược về biên giới Tây Nam. Khoảng đời của ngoại gắn liền với thảo thơm hoa lá từ rừng đến phố. Lá cũng là thuốc, lá cũng có thể ăn, lá che mình và lá để thành phố thở. Tôi chỉ mới là cậu học trò trung học chưa hiểu những sâu thẳm trong tiếng thở dài đắng đót của ngoại.

cho-la-dong-ong-ta-2.jpg -0
Chợ lá ngày giáp Tết.

Nhưng, khi đã bắt đầu lớn lên, bàn chân rong ruổi khắp thị thành này, mỗi bận nắng hươm vàng phố, chợ lá họp gọi Tết, tôi mới thấm thía lời của ngoại. Từ phiên chợ lá đó, người bán người mua dần dà quen mặt rồi cứ thế tìm về đôi khi lại là một câu chuyện ẩn sau một chữ tình. Như có năm sau cơn đại dịch hoành hành thành phố, Tết năm đó chợ lá họp chậm, mãi sau rằm tận gần ngày đưa ông Táo mới thấy lá về trên các vỉa hè. Dân Sài thành dáo dác chạy tới chạy lui để hỏi han, rồi tìm sạp quen mấy mươi năm là mối của mình. Sợ họ không họp chợ bởi bất trắc từ cơn dịch. Chừng người mua quay lại sau vài ngày gặp người bán quen hồ hởi gọi nhau, hỏi han đủ chuyện. Vậy là vui, vậy là mừng. Dặn nhau lựa bó lá mướt xanh, to tròn để luộc bánh cho đẹp màu. Chuyện chợ lá đâu chỉ là chuyện bán mua lệ thường mỗi mùa mà còn là chuyện tâm tình của người với người, của một thời với một đời.

Tỷ như mua riết quen nên dì Năm tôi chỉ mua lá của một bà ngoại già dân Bà Điểm. Bây giờ bà ngoại già giao sạp hàng lại cho con rồi về miền mây trắng. Dì Năm vẫn giữ mối quen cứ đến đúng cái sạp ngay trước cổng trường Tân Bình mua lá. Ngày dì yếu dặn lại con dâu phải mua ngay cái sạp lá đó. Hai bà già người bán người mua giờ hóa thiên cổ, nhưng hai cô con gái lại nối tiếp cái chuyện tình người để giữ gìn một tấm lòng xưa nghĩa cũ của thế hệ trước để lại. Đâu chỉ mua lá, chị dâu tôi mỗi bận đi chợ lá là đi cả buổi. Là gặp lại sau cả năm trời thì tỉ chuyện để nói, nói suốt buổi chưa hết chuyện. Lắm khi người mua chạy xe về tới nhà mới hay bỏ quên mớ dây lạt gói bánh. Thì mai chạy ra lấy, có nề hà chi đâu. Kiểu đi chợ lá của người Sài thành như đi tìm kỉ niệm. Mà tôi tin đất này cũng trăm ngàn người đi chợ lá như thế.

Tình chợ lá còn thể hiện trong cách bán. Ví như những năm tôi sinh viên, lúc đó đoàn trường hay làm mấy chương trình đón Tết cho sinh viên. Đám sinh viên mặt non choẹt cầm ít tiền chạy rà rà xe vào lề đường hỏi giá lá. Nhìn đám nhỏ lí nhí trả giá thấp xuống rồi nói mua về gói bánh tổ chức ăn Tết sinh viên. Sinh viên những năm đầu 2000 thì thường nghèo và cũng không mấy việc làm thêm để có khoản thu nhập ngoài. Người đàn ông từ Gia Kiệm lên họp chợ nghe chuyện đám sinh viên nên vừa bán vừa cho. Hồi sau đám sinh viên mới để ý thằng nhỏ đen nhẻm dong dỏng cao theo phụ bán lá mùa Tết đang mặc cái áo thun thể dục của một trường Cao đẳng nghề tại đất này. Ông bán lá cười hà hà, giúp cho tụi bây cũng như giúp cho thằng con chú, một mình nó trọ học đất này, may gặp toàn người tốt hỗ trợ. Vậy nên, giờ ông bán lá cho chúng tôi như một phần đáp lễ với mảnh đất này.

Dân bán chợ lá riết quen mối. Mối nào là cơ sở gói bán bánh, mối nào chuyên mua để nấu bánh cho từ thiện, mối nào mua để nấu gia đình ăn. Đôi khi chỉ cần thắng xe cái két là biết ngay tên để gọi. Người bán người mua trông nhau và trông Tết. Có lẽ cái chợ này vẫn là cái chợ duy nhất mà thị dân ít trả giá hay toan tính mắc rẻ, lời lỗ trong cuộc bán mua.

Nắng gió phương Nam thổi cái nồng nàn lên đất này mỗi bận Tết đến. Cái chợ lá dong cứ hiển nhiên theo mùa ấm áp mà tìm về, gọi Tết dậy lên tâm thức thị dân.

Tống Phước Bảo

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).