Nữ thần Tự do 135 tuổi

Bức tượng Nữ thần Tự do tính từ thời điểm khánh thành vào ngày 28/10/1886 đến nay đã tròn 135 tuổi. Nó gắn liền với nhiều giai đoạn thăng trầm của nước nước Mỹ và đã trở thành biểu tượng của nước này, hằng năm có hàng triệu khách du lịch đến đây để chiêm ngưỡng. Gắn liền với bức tượng này là những điều đặc biệt đã được ghi nhận.

Những ý tưởng hình thành bức tượng

Tượng đài có ý nghĩa bậc nhất này của Mỹ nhưng hoàn toàn không được tạo ra từ nước Mỹ. Món quà đúng là của Pháp tặng nước Mỹ để ca ngợi tự do và tăng thêm sự gắn kết giữa hai nước, tuy nhiên Chính phủ Pháp không có liên quan gì đến việc tạo ra bức tượng. Tác giả của ý tưởng táo bạo này là Edouard Rene de Laboulay - một nhà chính trị tự do và là người đứng đầu hội chống sở hữu nô lệ địa phương. Ông từng mơ ước xây dựng nền dân chủ ở quê hương mình theo mô hình của Mỹ. Lần đầu tiên Laboulay nói về mong muốn làm một món quà tặng cho nước Mỹ là vào năm 1865 trong một bữa tiệc tối.

1. toàn cảnh bức tượng nữ thần tự do.jpg -0
Toàn cảnh bức tượng Nữ thần Tự do.

Tại buổi tiệc có sự tham gia của nhà điêu khắc Frederic Auguste Bartholdi, "cha đẻ" tương lai của tượng Nữ thần Tự do. Khi đó, món quà mới chỉ là một ý tưởng chứ chưa phải là một kế hoạch cụ thể. Hơn nữa, thật nguy hiểm nếu thảo luận nghiêm túc về ý định đó dưới thời trị vì của Napoleon III, song Bartholdi lại rất thích thú, cả đời ông mơ ước tạo ra một thứ gì đó khổng lồ, kỳ vĩ. Niềm đam mê nghệ thuật của Bartholdi bộc lộ từ thời thơ ấu và được người mẹ nhiệt tình khuyến khích: Bà đã mua một xưởng vẽ để con trai tạo ra tác phẩm đầu tiên của mình. Mơ ước của Bartholdi càng được củng cố sau một chuyến đi đến Ai Cập, nơi có những di tích cổ xưa nhất và những tượng đài Ai Cập cổ đại ấn tượng trở thành nguồn cảm hứng cho nhà điêu khắc tạo ra bức tượng Nữ thần Tự do.

Quá trình người Pháp xây dựng tượng

Bartholdi nảy sinh ý tưởng tạo ra một tác phẩm điêu khắc mới và cần xác định nơi đặt bức tượng. Ông đã đến Mỹ vào năm 1871, khi đó quyền lực của Napoleon III đã chấm dứt. Con tàu chở ông tiến vào bến cảng New York và thứ đầu tiên ông nhìn thấy là Đảo Bedlow (vài thập niên sau đổi tên là Đảo Tự do). Bartholdi tin chắc rằng chính tại nơi đây, "ở cửa ngõ vào nước Mỹ" sẽ là nơi đặt bức tượng khổng lồ đó.

Trở về quê hương, Bartholdi bắt tay vào công việc. Trước hết cần xác định rằng bức tượng tương lai sẽ mang dáng vẻ ra sao. Với sự ủng hộ của nhà chính trị tư tưởng Laboulay, nhà điêu khắc đã lựa chọn hình ảnh mẫu là Nữ thần tự do La Mã cổ đại Libertas - người bảo trợ cho những nô lệ đã được giải phóng. Và nữ thần Libertas có thể không phải là nguồn cảm hứng duy nhất cho Bartholdi. Một số người tin rằng ông đã dựa vào hình ảnh của mẹ mình, số khác lại đoán rằng dáng nét của bức chân dung của chính Laboulay. Song không có bằng chứng cho những giả định đó.

Phiên bản cuối cùng của bức tượng được chọn vào năm 1875, chỉ một năm trước lễ kỷ niệm 100 năm Độc lập của nước Mỹ. Việc xây tượng được bắt đầu ngay lập tức. Kỹ sư trưởng là kiến trúc sư Eugene ViolletleDuc đã đề xuất sử dụng đồng làm vật liệu. Thực ra, lúc đầu bức tượng có màu vàng phớt hồng đặc trưng của đồng, nhưng theo thời gian nó đã chuyển sang màu xanh do quá trình oxy hóa. Để tạo ra bức tượng đã phải dùng 300 tấm đồng và tạo nên hình dạng mong muốn bằng cách dùng búa dập chúng bằng tay và gắn chặt với nhau bằng các dây kim loại.

Quá trình tạo ra bức tượng kéo dài và tốn nhiều công sức, ngoài ra dự án còn phải đối mặt với tình trạng thiếu kinh phí. Số tiền dành cho công trình không được Chính phủ Pháp cung cấp mà phải thu nhận thông qua các khoản quyên góp. Dần theo thời gian, người Pháp đã do dự về việc phải chi tiền cho một bức tượng sẽ được đặt ở một đất nước khác nên số tiền quyên góp đã dần ít đi. Điều này khiến dự án không thể hoàn thành vào dịp 100 năm độc lập của nước Mỹ mà mãi đến 10 năm sau tượng đài mới được khánh thành.

Tuy nhiên, nhà điêu khắc Bartholdi đã không thất vọng. Trước năm 1876, ngọn đuốc Tự do nổi tiếng đã hoàn thành, nó liền được gửi đến Mỹ và được trưng bày trước công chúng tại Triển lãm Quốc tế "Một Trăm Năm" ở Philadelphia. Cách biểu trương như vậy đã thúc đẩy người dân ở cả hai bờ đại dương quyên góp tiền để tài trợ cho dự án và những tiếng búa lại được vang lên trong xưởng sản xuất. Phần tiếp theo của tượng Nữ thần Tự do là đầu tượng đã hoàn thành và được trưng bày tại Triển lãm Thế giới ở Paris năm 1878 nên việc gây quỹ một lần nữa lại được đẩy nhanh.

2. xây dựng bệ đỡ cho bức tượng.jpeg -0
Quá trình xây dựng bệ đỡ cho bức tượng tại Mỹ.

Công việc hoàn thiện bức tượng đang diễn ra sôi nổi, song những khó khăn vẫn chưa kết thúc. Nhà điêu khắc Bartholdi phải đối mặt với một vấn đề mới: "Nữ thần" nặng đến 90 tấn và cao 46m (kể từ chân tượng), phải được gắn giữ thật chặt, bởi vì tượng phải đứng ở ngay lối vào cảng New York và phải chịu đựng những cơn gió biển. Không may là vào thời điểm đó, kỹ sư ViolletleDuc đột ngột qua đời. Ông đã để lại kế hoạch về kết cấu gắn giữ bức tượng, nhưng Bartholdi thấy nó đã lỗi thời và cần sửa đổi. Quyết định được đưa ra là tìm đến sự trợ giúp của kỹ sư Gustave Eiffel. Nhà sáng tạo 47 tuổi này từng nổi tiếng đã xây dựng những cây cầu trên các trụ sắt và đã tạo ra chiếc cầu cao nhất trên thế giới. Đối với Eiffel thì lời đề nghị của Bartholdi là một thử thách thực sự và là cơ hội để ông thực hiện một điều gì đó thật độc đáo.

Eiffel đã phát triển một hệ thống gắn giữ tượng Nữ thần Tự do mang tính cách mạng: kết cấu này gồm một giá đỡ chính, trên đó gắn bộ khung kim loại với các thanh ngang phẳng được kéo ra từ đó. Phải gắn giữ bức tượng bọc đồng trên chính những thanh ngang này. Một lợi thế không thể phủ nhận là khả năng thích ứng của bộ khung như vậy với thời tiết xấu: Khi có gió mạnh, các thanh ngang nhận biết sự di chuyển của các tấm đồng và điều chỉnh mức dao động theo gió mà không cố chống chọi với nó. Vì vậy, khi sức gió là 100m/giây thì bức tượng sẽ lắc lư một chút và sẽ lệch khỏi vị trí cũ 7,6cm, còn ngọn đuốc sẽ lệch tới 12,7cm. Ngoài ra, kết cấu do Eiffel tạo ra rất nhẹ và nhỏ gọn, còn bản thân bức tượng thực tế là rỗng. Đối với Gustave Eiffel, sự sáng tạo này trở thành một bước tiến. Vài năm sau khi làm bức tượng Nữ thần Tự do, ông đã sử dụng kinh nghiệm này để tạo ra tháp Eifell huyền thoại cho đến nay vẫn là kỳ quan nổi bật nhất của Paris.

Xây bệ đỡ tượng tại Mỹ

Việc hoàn thành bức tượng đang đi đến chặng cuối. Còn ở nước Mỹ thì sao? Phải chăng người Mỹ chỉ việc ngồi đó chờ đợi món quà mang đến cho họ? Theo thỏa thuận thì phía Mỹ phải chuẩn bị phần bệ đỡ cho "Nữ thần". Nhưng mọi thứ không đơn giản như vậy: Phần móng đã sẵn sàng, hệ thống gia cố bên trong bệ đã được thiết kế và bắt đầu khởi công. Tuy nhiên, một vấn đề nữa phát sinh - vẫn là câu chuyện kinh phí!

Người phản đối dự án lúc đó là Thống đốc New York (sau này trở thành Tổng thống Mỹ) Grover Cleveland, ông đã ngăn cản chính quyền bang chi 50 nghìn USD từ Quỹ hỗ trợ tài chính cho dự án. Trong năm 1885, tất cả mọi công việc xây dựng móng đành phải ngừng lại vì thiếu tiền. Còn ở Pháp, ngày càng có nhiều lời kêu gọi hãy để lại bức tượng tại quê hương và không chuyển nó cho người Mỹ "vô ơn" không có khả năng thực hiện phần "thỏa thuận" của mình. Ngỡ là bức tượng sẽ trụ lại ở Paris, song số phận của Nữ thần Tự do đã đi theo một hướng khác.

Dự án đã được cứu nguy bởi nhà xuất bản phẩm người Mỹ Joseph Pulitzer. Ông chỉ trích các chính trị gia và những người giàu có đã từ chối tài trợ để xây bệ đỡ tượng. Ông cũng đề nghị đăng trên các trang báo của mình tên của tất cả những người quyên góp kinh phí để xây bệ, từ đó kêu gọi các đại diện của giai cấp công nhân hành động. Pulitzer cũng được hưởng lợi vì việc làm này có ích cho việc quảng bá các ấn phẩm của mình. Chính nhờ sự nỗ lực của ông mà hơn 100 nghìn USD đã được quyên góp và tương lai của bức tượng Nữ thần Tự do đã được bảo đảm.

Khi mọi công việc đã được giải quyết, người Pháp dỡ 350 mảng ghép của bức tượng để gửi theo đường biển đến cảng New York. Vào mùa xuân năm 1886, bệ đỡ tượng tại Mỹ cũng được hoàn thành và đến mùa thu - ngày 28/10 năm đó đã diễn ra buổi lễ long trọng khánh thành bức tượng Nữ thần Tự do. Một điều thú vị là Tổng thống Mỹ Grover Cleveland (người từng không ủng hộ dự án) đã đích thân cắt băng khánh thành. Từ đó đến nay tượng đài này vẫn là một trong số những biểu tượng chính của nước Mỹ, cho dù đã phải trải qua rất nhiều thử thách và gian nan ở cả hai đất nước trong suốt quá trình tạo dựng.

Bích Nguyễn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).