Nữ sĩ Phan Ngọc Thường Đoan: Cháy hết niềm xanh

Cũng đã khá lâu, tôi mới nhận được thi phẩm mới nhất của nhà thơ Phan Ngọc Thường Đoan, dù vẫn đọc chị nhiều trên các báo lớn của cả nước, các số thường và những số đặc biệt, giai phẩm Xuân. Vẫn là một phong cách thơ riêng biệt, những con chữ nghe rất bình dị song luôn đầy ắp suy tư và bung bật cảm xúc người đọc; đưa người đọc về với cõi thơ của chị, đằm thắm, ngọt ngào mà dữ dội, bao dung…

Lần này là thi phẩm "Đất nước tôi màu xanh", NXB Đà Nẵng. Thi phẩm đẹp như chân dung của chị, với cái nhìn xa thẳm, với những lụa là đã trải qua đường thơ cùng những "Lục bát cho khát vọng", "Người đàn bà làm thơ và trăng", những "Rũ người" và "Đếm cát" hay "Buổi sáng có nhiều chuyện kể", "Nhớ mưa Sài Gòn xưa"… Lần này, chị mở ra một khu vườn xanh, cỏ hoa cây trái tốt tươi và cùng người đọc đặt bàn chân lên những ngả đường. Chị viết về đất nước, một nước Việt xanh tươi, với những con người và dấu ấn lịch sử, những hy sinh cho Tổ quốc trường tồn và cả những đau thương vì chiến tranh, đại dịch.

nhà thơ phan ngọc thường đoan.jpg -0
Nhà thơ Phan Ngọc Thường Đoan.

Nhà thơ chia tập thơ thành 2 phần: Phần một "Khi thành phố giãn cách" và phần hai "Ngoảnh lại nhìn sau để nhớ"… Phần một là những dòng thơ được viết trong những ngày TP Hồ Chí Minh phải phong tỏa mọi hoạt động, ai ở đâu yên đó, không khí nặng nề bao trùm bởi dịch đang lên đỉnh điểm.

Những đêm trằn trọc nối tiếp nhau, "vườn vắng mùi người/ trần gian lạnh một kiếp đời/ tuổi xuân không còn trên môi" (Không ngủ). Thiếp đi trong mệt mỏi, khi "đặc khô tiếng khóc loài người/ úp mặt để che nước mắt/ nước mắt không còn để đau". Nhưng may mắn thay khi có một mùi hương cứu rỗi "mùi hoa thương người cô độc/ bừng thơm giữa trời quạnh hiu" (Gần sáng). Và ở ngoài phố, nơi chỉ có chút lao xao vọng về vì phố đang hoang vu, trong màn mưa nhà thơ thốt lên niềm tuyệt vọng về một chia lìa vĩnh viễn: "Ngoài kia mưa đổ một mình/ chuyến xe chở sự hồi sinh không về" (Ngoài kia)…

Lòng người vẫn luôn nhắc nhớ, nhói đau, những khi đối diện với chính mình, khi nhớ lại những bóng hình yêu thương.

"Con đường vắng người/ mặt trời chết treo lặng lẽ/ người đi không ai tiễn đưa/ tro cốt khóc cười lẫn lộn/ nụ cười tắt lịm/ tiếng khóc chảy ngược vào tim" (Giãn cách)

Những ngày đại dịch hoành hành trên khắp địa cầu, mùa xuân vẫn lặng lẽ bước về với thành phố phương Nam, vẫn có hoa mười giờ nở trước hiên, có cành tuyết mai ở một góc nhà, ly rượu trưa ba mươi rót ra để đó… Đừng nói nhớ nhau khi đã xa là dỗ dành mình đừng khóc khi người sai hẹn khiến mùa xuân lang thang. Phan Ngọc Thường Đoan nói với người đọc bằng tự sự của một người đã mềm lòng trước nỗi đau quá lớn, "đêm sâu thừa tiếng thở dài/ lộc non ngóng một bàn tay". Nhà thơ nhận ra nắng dạt chiều trong ngày chướng thổi, cả hoa và rượu đều ngất ngây buồn:

"Bông mười giờ/ nở trước mười giờ/ những nụ tim đỏ/ vẫn đỏ khao khát/ sao nước mắt tuyết/ đính dòng trên cành mai trắng liêu xiêu/ ly rượu trưa ba mươi không cạn" (Đừng nói nhớ nhau khi đã xa).

Trong phần một của tập thơ có hai bài ca, "Tử ca" và "Xuân ca", hai khúc ca bằng thơ và độc đáo là cả hai bài thơ đều gieo vần bằng cuối câu, tương tự "Tì bà" của Bích Khê. Trong "Tử ca", điệp khúc "hồn về" trong chập chờn hư ảo đi cùng nỗi ngậm ngùi:

"Hồn về/ chập chờn về/ xuân về/ mai nở rồi/ trắng tóc mẹ ngồi chờ đợi con/ gió mùa đông tái tê ngậm ngùi/ hồn về/ dật dờ về/ chập chờn dưới trăng/ tro cốt pha ngậm ngùi"…

Còn "Xuân ca" là điệp khúc "người về":

"Người về/ chầm chậm về/ bên đời/ hoa nở rồi/ người về/ nhẹ chân trong vườn/ đêm ba mươi/ tôi thắp nến làm hải đăng chỉ đường"…

Phần hai, "Ngoảnh lại nhìn sau để nhớ" là những vùng miền đất nước, nơi nhà thơ đặt chân đến và hòa dòng cảm xúc thương yêu đất nước, con người. Đây cũng là chủ đề chính của tập thơ, dung lượng đầy đặn hơn phần một, phong cách thơ có nhiều khác lạ so với một Phan Ngọc Thường Đoan thiên về tự sự nhiều hơn. "Đất nước tôi màu xanh" cho thấy một Phan Ngọc Thường Đoan hướng ngoại hơn, cũng là tình cảm của con người nhưng đặt trong tình cảm lớn lao hơn là tình yêu đất nước. Đó là màu xanh của rừng, của biển, của những nỗi niềm cuộn dâng những cảm thức mới trong thơ. Màu xanh là hiện thân của đất nước, của yêu thương nồng cháy, tự hào.

Nhà thơ đem lại trang thơ diện mạo mới về tư duy thơ đầy sáng tạo. Ở khu di tích vàm Khâu Băng (huyện Thạnh Phú, Bến Tre) gắn với huyền thoại tàu không số, chiến công oai hùng để lại ngàn sau thì cũng bao người lặng lẽ hy sinh, từ những hàng mộ gió người đi không về đến những người mẹ, người chị:

"Mẹ quấn khăn cột tóc thiếu nữ/ bổ cau làm tư/ chẻ thương nhớ làm mười/ bàn tay lạnh xiết bàn tay gầy guộc/ hẹn hò đau".

bia sach.jpg -0
Bìa cuốn “Đất nước tôi màu xanh” của nhà thơ Phan Ngọc Thường Đoan.

"Mẹ ngậm ngùi thành Tô Thị ngàn năm/ chị thiên thần hóa thành góa bụa/ những đoàn tàu không số chở anh linh/ vẫn xanh niềm tin/ có một mặt trời đỏ thắm" (Bên vàm Khâu Băng)

Về thăm chiến khu Mã Đà ở miền Đông Nam bộ, thấy rừng xanh lá, ngàn ngàn dấu thập:

"Giữa xanh biếc là giá băng chìm lặng/ là đôi mắt buồn giấu tiếng gọi yêu thương/ tôi trở lại Mã Đà chiều tháng bảy/ đi trong mưa nghe rừng gọi thiết tha/ nghe lời hẹn/ nghe tiếng cười mười tám/ một trăng non sáng mãi giữa rừng già" (Rừng gọi).

Những câu thơ rất nhẹ nhưng đầy ám ảnh, một tiếng cười mười tám vọng giữa tâm hồn người đọc một nỗi buồn, một sự biết ơn về những hy sinh tuổi thanh xuân của một thế hệ…

Một trong những bài thơ hay nhất trong tập thơ này là "Bức ảnh dưới hố sâu". Từ Á sang Âu, khi máy ảnh bước vào đời sống con người, trong hành trang của người lính thường có tấm ảnh người thân yêu nhất. Người lính ấy đã hy sinh 45 năm ở chiến trường miền Nam, có tấm hình người con gái trong ba lô chôn theo dưới lòng đất:

"45 năm dưới lòng đất lạnh/ vẫn ấm áp một tình yêu vô biên/ giữa âm u nụ cười em vẫn sáng/ tuổi thanh xuân chỉ còn lại trong bức ảnh em cười".

"Anh thành sương ngắm mắt em xanh mỗi lần đêm xuống/ 45 năm xương thịt người hóa đất/ chỉ hình ảnh em không rã vụn với thời gian/ anh vác em trong ba lô 45 năm dài vô vọng/ chỉ thèm nghe một tiếng gọi tên mình".

Vâng, một tiếng gọi tên mình thôi, vẫn chưa thành hiện thực. Bài thơ ngắn mà âm vọng ngân dài, những giọt nước mắt lặng lẽ chảy với người đọc. Chiến tranh lấy đi của con người những gì quý giá nhất, bao người lính chiến đấu cho Tổ quốc hòa bình và lặng lẽ hy sinh ở những góc rừng xa thẳm?

Không dùng những khẩu ngữ, nhà thơ khái quát, dựng những hình tượng và thi ảnh, tứ thơ rất đắt để biểu đạt, đem lại nhiều cảm xúc sâu sắc và hiệu ứng thẩm mỹ. Đó là những ngọn gió màu đỏ thổi về từ những địa danh biên giới Tây Nam, nơi tội ác diệt chủng của bè lũ Pol Pot - Ieng Sary năm nào, ướt máu dân nghèo vô tội; là những đom đóm rừng chập chờn quanh những ngôi mộ trống, lao xao dẫn lối người về; là nhắc nhớ không thể nào quên "mùa đông qua/ người ở lại/ thanh xuân trên từng lóng xương rời". Đó là sắc lá, là lá lạnh (lá trung quân) khó bén lửa dùng để lợp nhà, "50 năm lá vẫn lạnh/ hôm nay ẩm ướt khói nhang"; nên giữa rừng Mã Đà mùa thu "trưa nóng ran/ mà tôi nghe lạnh/ tiếng kêu từ đất rêu dày"…

Phan Ngọc Thường Đoan cũng rất thành công khi giữ lại chất trữ tình da diết, cộng thêm những dấu nhấn sáng tạo mới, đem lại cho tập thơ những lạ quen, bất ngờ. Chị có những câu thơ, những đoạn thơ thật đẹp:

"Sáng mai chim vẫn hót/ chào bình minh ngọt ngào/ nhưng cửa rào nhà ai gió xích" (Đừng nói nhớ nhau khi đã xa).

"Tôi ngồi/ thêu tên người/ trên đất rêu mờ/ bên bình hoa xuân thì/ lưu ly lung linh thì thầm/ xin đừng quên tôi" (Xuân ca).

"Nơi họ ở đây dây leo che lối/ lau sậy mịt mờ phủ kín nỗi nhớ thương/ có ai về rừng khi mùa xuân đến/ ngắm rừng long lanh trong lạnh ngập tràn" (Giêng reo).

Những niềm xanh của thi nhân đã cháy trên những trang thơ đẹp, làm ấm lòng người qua những mất mát, đau thương. Những khúc ca đã ngân lên, chạm tim mỗi người.

Bùi Phan Thảo

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).