Nỗi oan thời xưa - nhìn từ thời nay!

Chưa thấy sách vở nào của ta nói “Quan Âm Thị Kính” có thực ngoài đời nhưng “Nỗi oan nàng Đậu Nga” được nhiều sách Trung Hoa kể rằng có thật. Sách “Liệt nữ truyện” viết thành truyện “Đông Hải hiếu phụ” kể xảy ra thời Nguyên, nhân vật chính có tên Chu Thanh sống ở vùng Đông Hải được xếp vào “thiên cổ kỳ oan”. Nhà văn Quan Hán Khanh (1229?-1307?) - tác gia kịch nổi tiếng (tương truyền viết 60 vở, hiện còn 18 vở) viết thành “Đậu Nga oan”.

“Quan Âm Thị Kính” được biết nhiều qua sân khấu chèo cổ có lẽ được “chèo hóa” từ một truyện cổ dân gian thuyết lý về nhà Phật. Truyện được Nôm hóa có tên “Quan Âm tống tử bản hạnh” dài 1260 câu rất chi tiết có phần rườm rà còn “Quan Âm Thị Kính” gần như trùng khít với bản chèo dài 786 câu cô đọng, tinh tế hơn, tính kịch căng thẳng, tâm lý nhân vật dữ dội hơn... Cả hai vở của Trung Quốc và của ta đều có nhân vật chính là nữ với nỗi oan ngút trời nhưng mang tâm lý, tính cách quan niệm mỹ học rất riêng về cuộc đời, về phận người, về cách ứng xử...

Nhìn từ triết học con người trên tinh thần đối thoại ở thời hội nhập hôm nay càng thấy những ý nghĩa hiện đại phát sáng. Nó như một chứng minh văn chương đỉnh cao luôn mới mẻ ở bất kỳ thời nào để mang giá trị muôn đời!

untitled-7.jpg -0
Tượng Quan Âm tống tử!

Ở vùng Sở Châu nọ có một gia đình nghèo, người chồng Đậu Thiên Chương theo nghiệp bút nghiên. Người vợ mất sớm khi đứa con gái Đoan Vân lên ba tuổi. Đậu Thiên Chương vay của Thái Bà 20 lạng bạc. Lãi mẹ đẻ lãi con, nay phải trả 40 lạng. Không có tiền trả nợ, lại đúng dịp lên kinh ứng thi, Chương liền bán con cho Thái Bà dưới danh nghĩa “làm dâu”. Thái Bà xóa hết nợ còn đưa thêm cho Chương 10 lạng bạc nữa... 17 tuổi, Đoan Vân đổi tên Đậu Nga cưới chồng. Một năm sau chồng chết...!!!

Thầy lang Trại Lô là một con nợ của Thái Bà. Trại Lô lừa kế giết Thái Bà xóa nợ nhưng được cha con Trương Lư cứu. Thái Bà đồng ý cha con Trương Lư lấy hai mẹ con để trả ơn. Đậu Nga cương quyết cự tuyệt với lý do “thủ tiết với chồng”. Trương Lư Nhi (con) căm tức, nghĩ kế trả thù. Để ép buộc Đậu Nga, Trương Lư Nhi (con) lén bỏ thuốc độc vào bát cháo Đậu Nga nấu nhằm giết Thái Bà. Thái Bà không muốn ăn, Đậu Nga bèn chuyển cháo cho Trương Lão Nhi (cha). Trương Lão Nhi trúng độc chết. Trương Lư Nhi đổ tội đầu độc cho Đậu Nga, bắt nàng giải lên quan.

Đào Ngột - tri huyện nổi tiếng tham nhũng, nhận tiền đút lót của Trương Lư Nhi, bắt Đậu Nga ra thẩm vấn. Bị đánh chết đi sống lại, Đậu Nga một mực kêu oan. Đào Ngột sai đem Thái Bà ra đánh. Thương mẹ chồng tuổi già, Đậu Nga đành nhận tội. Bị giải ra pháp trường xử tử, trước khi chết Đậu Nga xin treo cao một dải lụa trắng cùng ba lời thề: Nếu bị oan, thì “đao chém qua đầu một giọt máu nóng cũng không rơi xuống đất mà sẽ bắn lên dải lụa trắng kia”; Nếu bị oan, thì “sau khi chết, trời sẽ giáng tuyết dày ba thước, đắp lên thi thể”; Nếu bị oan, sau khi chết “đất Sở Châu này sẽ hạn hán trong suốt 3 năm liền”!

Lời thề ứng nghiệm đủ cả ba!

Quay về chuyện Đậu Thiên Chương. Sau khi thi đỗ Nhất giáp Tiến sĩ, Thiên Chương làm quan Tham tri chính sự được nhà vua cử đi xét lại các bản án. Vì Thái Bà dời nhà đi xa nên Thiên Chương không tìm được tung tích con gái chỉ biết nhớ con bạc cả tóc. Khi thấy Sở Châu đại hạn, biết có án oan Thiên Chương bèn xem lại tất cả các án cũ. Vì con gái đổi tên nên Thiên Chương không nhận ra Đậu Nga là con gái mình. Thấy đúng tội Thiên Chương không nghi ngờ nữa. Hồn oan Đậu Nga hiện về kể cho cha biết, mong cha: “Những ai làm loạn nhân luân/ Phân thây xé xác vạn lần mới thôi/ Cha ơi bản án còn đây/ Cha đem sửa lại tỏ bày cho con...”. Xem xét, điều tra kỹ Thiên Chương thấy đúng bèn cho bắt lũ gây tội. Hồn oan Đậu Nga hiện về đối chất. Tất cả cứng họng. Đậu Nga xin cha vì mẹ chồng tuổi cao không người phụng dưỡng nhờ cha đem về nuôi để con yên lòng “nơi chín suối”... Người có hiếu thì chết đi vẫn có hiếu!

Vở kịch là một “liên văn hóa” giữa cổ tích với “ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo” và một nguyên lý nhà Phật “oan có đầu nợ có chủ”. Đào Ngột nhận hối lộ mà tạo oan sai. Cha con Trương Lư giết người đổ tội. Nên Đậu Nga dù chết cũng không tha cho bọn chúng... Đấy cũng là lớp nghĩa biểu hiện khát vọng công bằng của người xưa: Công lý phải được thực thi. Gây ra tội nào phải trả tội như thế!

untitled-8.jpg -0
Tranh nàng Đậu Nga và lời thề!

Ở thời toàn cầu hóa hôm nay, trái đất như co lại, hẹp lại. Vì bị chi phối, ràng buộc lẫn nhau, muốn tồn tại và phát triển con người phải đối thoại với nhau. Thế nên tiếp nhận văn học chuyển sự chú ý từ cốt truyện tác phẩm sang lời thoại nhân vật. Đây là lời những người dân Sở Châu vô tội than với quan Thiên Chương: “Chúng tôi biết Đậu Nga bị oan nhưng sợ quyền thế của tên tham quan đó mà đành ôm hận chứ không dám nói ra. Chúng tôi không hề hãm hại nàng, cớ sao lại phải chịu nạn hạn hán suốt 3 năm này chứ?”. Lời đáp của quan Thiên Chương cũng là lời của công lý: “Biết rõ Đậu Nga bị oan, vậy mà không nói lời công đạo, đó là bất nghĩa. Những kẻ hùa theo tham quan không cứu người lương thiện, đó là bất nhân. Trời cao có mắt. Thiên tai nhân họa là để trừng trị những kẻ bất nhân bất nghĩa vậy!”. Thì ra đó còn là chân lý, là đạo lý!

Con người không làm việc ác, không hại người, tưởng rằng thế là không phạm tội, không xấu. Họ không biết rằng im lặng là đồng lõa với tội ác. Thế nên họ bị trừng phạt!

Vở chèo “Quan Âm Thị Kính” hàng mấy thế kỷ nay làm thổn thức hàng triệu trái tim bao thế hệ bởi những khát khao về lẽ công bằng, về tình người. Một người vợ Thị Kính yêu chồng lại bị vu oan thành kẻ giết chồng. Cái nguyên cớ bắt đầu và cơ bản là tính cách yếu nhược, nông cạn của người chồng học trò Thiện Sỹ. “Nối giáo” là tính cách gia trưởng, độc đoán của “nhà chồng” Sùng Ông Sùng Bà cay nghiệt thiếu nhân tính. Giả trai đi tu lại bị vu “mượn màu thiền dở thói mưa mây” mà có con…

Thị Kính tốt, hiền lành cam chịu như thế mà bị oan, mà oan thảm hai ba lần. Trong cái xã hội đầy tai ương, đầy mâu thuẫn, phi lý như thế thì người tốt, cái tốt không tồn tại được. Mà muốn cho cái tốt, người tốt tồn tại thì phải thay đổi cả cái xã hội ấy. Cái tiếng than của nàng rất yếu ớt, một lần than với mẹ đẻ, hai lần than với cha đẻ (Oan con lắm, mẹ/cha ơi!), một lần than với làng (Trình lạy làng, oan kẻ tu hành này lắm!), một lần than với Sư cụ (Oan con lắm, thày ơi)!!! Nhưng xét từ nguyên lý đối thoại lại rất quan trọng. Tiếng than ấy không phải nói với con người, dù là những người thân nhất, gần nhất mà là than với phận người, với cõi người. Thế nên nó không có lời đáp lại. Lời Thị Kính “độc thoại nội tâm” (hát sử rầu, vãn láy): “Oan này nhẫn chịu, thác rày thời thôi!” cũng vậy. Nỗi oan ấy là hạt nhân của kiệt tác!

Nhưng tại sao cả làng của Thị Kính, Thị Màu chỉ biết ra “ăn khoán” chứ không cần biết đến lẽ phải: Lời tố cáo có đúng không!? Các “quan”, dù có là quan “ăn tiên chỉ” cũng chỉ cần nhìn thấy “cái bụng chửa” của Thị Màu, không cần “điều tra”, đã coi Thị Kính là “tác giả”!? Trời đất ơi? Vì con người ta vô cảm trước tai họa của con người!

Có phải im lặng là tốt không?

Kiệt tác ấy như nói với hôm nay rằng: Hiểu biết và tình thương sẽ là hai cánh đưa con người bay vào bầu trời văn minh. Thiện Sĩ thì ngược lại. Là “nho sinh” nhưng nó vừa không hiểu biết vừa thiếu nhân tính, tức vô học và vô đạo. (Ngày nay có “nho sinh” nào như thế không?). Ngu đến mức không biết “cái râu mọc ngược” là điềm không may (!?). Vô đạo đến mức đẩy người vợ hiền vào nỗi oan thấu trời. Nó có phải là người, chưa nói tới tình nghĩa vợ chồng “đầu gối tay ấp”...? Dân gian bèn biến nó thành con vẹt. Tượng “Quan Âm tống tử” là hình ảnh một người phụ nữ bế một đứa bé, bên cạnh có con vẹt. Con vẹt ấy là Thiện Sĩ. Nó mãi mãi là kiếp vẹt “học vẹt”, nói vẹt... Sao mà dân gian mỉa mai sâu sắc thế: muốn làm người khôn, tử tế, người học phải thoát kiếp “vẹt”!!!

“Đậu Nga oan” và “Quan Âm Thị Kính” mãi mãi như hai vì sao rực rỡ tỏa sáng tinh thần nhân văn trên bầu trời văn hóa phương Đông!

Kiệt tác không bao giờ cũ!

Người viết bài này cứ tưởng tượng rằng nhờ đọc hai kiệt tác ấy mà nhà bác học Albert Einstein mới có câu nổi tiếng: “Thế giới không bị hủy diệt bởi những kẻ làm điều ác, mà bởi sự im lặng của những người tốt”!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).