Nhân đọc tác phẩm “Nợ nước non” của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ - NXB Văn học, tháng 5-2022

“Nợ nước non” và cú thoát bẫy lịch sử của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ

“Nợ nước non”, quyển mở đầu bộ ba tác phẩm về thân thế, cuộc đời cách mạng, sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và tiến lên Chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà nhà văn, nhà viết kịch Nguyễn Thế Kỷ ấp ủ thai nghén từ lâu, cuối cùng cũng đã ra mắt với đông đảo độc giả vào trung tuần tháng 5 năm 2022.

Về thể loại, “Nợ nước non” của Nguyễn Thế Kỷ là tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết lịch sử. Nhưng đây không phải là lịch sử thường, mà là lịch sử của Hồ Chí Minh: một vĩ nhân của Việt Nam và thế giới; người sinh ra, lớn lên, hoạt động và tự kiến tạo cuộc đời tuyệt đẹp của mình trong quãng thời gian đen tối, bi thảm nhất, khi nước mất nhà tan, khi cả dân tộc đang phải chịu cảnh rên xiết dưới ách đô hộ của Pháp, đất nước rực rỡ ánh sáng văn minh, nhưng đồng thời cũng là một trong những chế độ thực dân phương Tây vô cùng tàn bạo.

unknown.jpg -0
Nhà văn Nguyễn Thế Kỷ.

Với một đối tượng nghệ thuật đặc biệt như vậy, nhà tiểu thuyết luôn có nguy cơ bị rơi vào một cái bẫy: anh ta không viết tiểu thuyết, mà anh ta sẽ viết một truyện kể minh họa cho tầm vóc vĩ đại của nhân vật lịch sử, với rất nhiều phẩm tính đã được huyền thoại hóa trong sách vở và trong dân gian; bất quá, anh ta viết để bổ sung thêm một vài chi tiết lặt vặt mà ngành Hồ Chí Minh học hùng hậu còn chưa biết đến, hoặc đã bỏ qua. Làm được như thế cũng tốt, song nó vẫn không biến được một truyện kể thành một tiểu thuyết, bởi nó không “đi sâu vào tâm hồn của sự vật”, như cách nói của Gustave Flaubert, nó không biết đến cái “hiện tại không hoàn kết”, cái “hiền minh của sự lưỡng lự” vốn rất đặc trưng cho thể loại tiểu thuyết.

Viết “Nợ nước non”, Nguyễn Thế Kỷ đã thoát được “cái bẫy lịch sử” này, và thoát một cách khá ngoạn mục. Tác phẩm kể về Hồ Chí Minh khi còn ở làng Chùa làng Sen, rồi mấy lần ra vô Huế, vào Quy Nhơn, Phan Thiết, rồi vào Sài Gòn, trước khi lên tàu Admiral Latouche Tréville một ngày tháng 6 năm 1911, bắt đầu cuộc đời bôn ba hải ngoại của một nhà cách mạng, người đi tìm hình của nước. Quãng thơ ấu chiếm phần lớn dung lượng thời gian của truyện kể, và đó là quãng thơ ấu của một cậu bé, một cậu bé bình thường chứ không phải một thần đồng với những lời nói hay hành động đột xuất, tiên báo một thứ phẩm chất “lãnh tụ” hoặc “đế vương” gì đó cho sau này.

Qua mô tả của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ, người đọc hoàn toàn có thể xây dựng một hình dung về cậu bé Nguyễn Sinh Cung: sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo xứ Nghệ, lớn lên trong sự rèn cặp nghiêm cẩn của người cha, trong tình thương yêu và đức hi sinh vô bờ của bà ngoại và mẹ, trong sự chan hòa thân ái với bà con xóm giềng và bè bạn cùng trang lứa, trong bầu sữa ngọt lành của những câu hát và những truyện kể dân gian vẫn muôn đời lưu truyền trên đất đai xứ sở.

Cậu bé Nguyễn Sinh Cung cũng vô tư, hồn nhiên, hiếu động, ham chơi và hay hỏi những câu “trên trời”, như phần lớn các cậu bé ở mọi nơi, mọi thời. Nhưng tuổi thơ của cậu không êm đềm: nó được đánh dấu bằng những cuộc dịch chuyển liên tục theo cha nay đây mai đó, thực chất là đi học để quyết khoa, “chiếm lấy cái bảng vàng” theo một quan niệm Nho gia sâu gốc bền rễ, hoặc đơn giản là đi dạy học thuê cho thiên hạ, lấy đó làm kế sinh nhai.

Ngay ở cuộc dịch chuyển đầu tiên, cả nhà (trừ chị cả Thanh) vào Huế để ông Nguyễn Sinh Sắc theo học Quốc tử giám, cậu bé Nguyễn Sinh Cung đã nếm trải đến tận cùng nỗi đau mất mát: mẹ và đứa em mới chào đời của cậu đã chết, vì ốm và đói, khi cha (dắt theo anh cả Khiêm) còn đang bận chấm thi ngoài Thanh Hóa.

“Mẹ cậu im lìm. Nước mắt vẫn chưa khô trên hai khóe mắt. Những sợi tóc lòa xòa trên vầng trán gầy guộc nhưng vẫn còn nguyên nét thanh tú của một thời xuân sắc của mẹ. Cung gọi mỗi lúc một to hơn. Cậu lay mẹ, ôm lấy mẹ. Cùng lúc đó em Nhuận thức giấc, em quờ quạng hai cánh tay nhỏ xíu như muốn tìm bầu sữa quen thuộc. Không thấy bầu sữa, em bắt đầu khóc toáng lên. Cung nhảy xuống khỏi giường. Cung lao ra cửa. Giọng cậu lạc đi. Cung gọi bà con láng giềng, cậu cần sự giúp đỡ của người lớn. Em Nhuận vẫn khóc thét. Cung cuống lên chạy vô bế em lên. Một tay bế em một tay lay mẹ. Rồi lại bế em chạy ra cửa, lại gọi. Mấy bà hàng xóm tất tả chạy sang. Trưa tháng Chạp, gió vẫn lạnh buốt lùa hun hút, vô cảm, tàn nhẫn. Cung đã mất mẹ thật rồi. Và cha thì không ở đây...”.

no-nuoc-non-2-1-16526898526581866837228.jpg -0

Ở đoạn văn mô tả thời khắc bà Hoàng Thị Loan qua đời, để lại cái xác và một hài nhi bấy bớt cho một đứa bé mới mười tuổi hơn, Nguyễn Thế Kỷ dùng liên tiếp các câu văn ngắn, nhịp nhanh, tựa như những giọt nước nước mắt lã chã nối nhau trong nỗi đau xé người. Nỗi đau làm người ta lớn lên. Và nỗi đau ấy, trong khung khổ một tuổi thơ như thế, có lẽ chính là điều mà Nguyễn Thế Kỷ muốn nhấn mạnh như một dẫn nhập vào cái cốt tủy của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh sau này: đó là tình thương yêu con người, là sự đau cùng nỗi đau của con người và nỗi đau của nhân loại lao khổ.

Tuy nhiên, ở cậu bé Nguyễn Sinh Cung, và sau đấy là anh thanh niên Nguyễn Tất Thành, sự trưởng thành về lý tính, trưởng thành về nhận thức trước các vấn đề chính trị xã hội trong nước và trên thế giới, các quá trình vận động lịch sử và con đường đúng để giành lại chủ quyền cho dân tộc Việt Nam, những cái đó chỉ đến từ thế giới đàn ông.

Ba nhân vật có thực của lịch sử đã được Nguyễn Thế Kỷ đưa vào thành ba nhân vật của tiểu thuyết, tạo ra những tình huống đối thoại đa dạng với Nguyễn Tất Thành, từ đó mở rộng tư tưởng và mài sắc thêm cho quyết định xuất dương của nhà cách mạng trẻ tuổi.

Nhân vật thứ nhất chính là ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Nguyễn Tất Thành, một nhà Nho ưu thời mẫn thế, nhưng cũng là một nhà Nho bị mắc kẹt trong chính những nguyên tắc xuất xử truyền thống của Nho gia, yêu nước nhưng đành bất lực ôm mối đau mất nước đến hết đời.

Nhân vật thứ hai là ông giải San, tức Phan Bội Châu, người chủ trương cứu nước bằng con đường thiết huyết, tức đấu tranh bạo động trên cơ sở cầu viện (sau đó là cầu học) đế quốc Nhật Bản, một nước châu Á “đồng văn đồng chủng”.

Nhân vật thứ ba là họa sĩ Lê Huy Miến, một trí thức Tây học uyên bác lịch lãm, người từng thực hiện những bản vẽ thiết kế vũ khí chống Tây theo yêu cầu của vua Thành Thái, người đã nhắc cho Nguyễn Tất Thành phải chú ý đến tính chất hai mặt cùng lúc của nước Pháp: “Có một nước Pháp văn minh bậc nhất, cũng có một nước Pháp thực dân đang dùng mọi chính sách hà khắc, dã man để bóc lột chúng ta”, và rằng muốn đánh bại họ thì cần phải hiểu họ, học họ.

Chính ba nhân vật này - cùng với một loạt nhân vật không xuất hiện nhưng được “kể đến” khác, như Phan Đình Phùng, Vương Thúc Miện, Phan Chu Trinh, Đào Tấn, thậm chí cả Hoàng Cao Khải hay Nguyễn Thân - đã làm nên một vi khí hậu tư tưởng chính trị xã hội với những luồng dịch chuyển rất phức tạp trong tiểu thuyết “Nợ nước non”. Nguyễn Tất Thành cọ xát và phản biện, ngầm hoặc công khai, với tất cả những luồng dịch chuyển ấy. Và đó có lẽ chính là sự khẳng định của tác giả Nguyễn Thế Kỷ: để chuyến xuống tàu rời cảng Sài Gòn của Nguyễn Tất Thành là một quyết định lịch sử tối hậu, bước mở đầu cho công cuộc đền nợ nước của một vĩ nhân.

“Nợ nước non” của Nguyễn Thế Kỷ, cũng như các tác phẩm “Chuyện tình Khau Vai” và “Hừng đông” trước đó, hay hai tác phẩm tiếp theo, sắp tới đây trong bộ ba “Nước non vạn dặm”, đều xuất hiện trước công chúng bằng hai phiên bản: tiểu thuyết và kịch bản sân khấu (kèm với nó là các vở diễn theo nhiều kịch chủng).

Có lẽ không ai, kể cả tác giả, dám đoán quyết rằng giữa tiểu thuyết và kịch bản sân khấu thì đâu là chính bản, đâu là phó bản. Bởi, khi xếp chồng hai phiên/ văn bản của cùng một tác phẩm, người đọc luôn nhận thấy những vênh lệch, so le, thêm và bớt, về cả nhân vật và các sự kiện trong đường dây cốt truyện. Vấn đề không hẳn đã nằm ở sự khác biệt về ngôn ngữ nghệ thuật giữa tiểu thuyết (để đọc bằng mắt) và kịch bản (chủ yếu để dàn dựng và xem trên sân khấu), mà dường như nằm ở tham vọng của nhà văn: giải phóng tác phẩm khỏi sự ràng buộc của chỉ một khung khổ chết cứng. Đây là điều rất ít gặp trong lịch sử văn chương kịch nghệ Việt Nam hiện đại và đương đại. Dù sao chăng nữa, nó cũng góp phần làm cho sự tiếp nhận tác phẩm của công chúng được nới rộng thêm, và mặt khác, đời sống nghệ thuật cũng trở nên phong phú hơn về sắc màu thẩm mĩ.

Hoài Nam

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).