Nỗ lực đáng ghi nhận

12 năm trước, phim "Áo lụa Hà Đông" ra mắt, được giải ở Busan - Hàn Quốc và giành luôn 5 giài "Cánh diều Vàng" (2006). Bộ phim gây tiếng vang lớn trong giới chuyên môn nhờ vào mạch cảm xúc mạnh, câu chuyện gần gũi và gắn với một thời đoạn lịch sử của dân tộc. Nhưng điều đáng buồn là nó không thành công khi ra rạp.

Nếu xét về khía cạnh một thương phẩm văn hoá, "Áo luạ Hà Đông" là một thất bại đáng tiếc và thất bại ấy khiến cho không ít những nhà đầu tư phải chùn tay trước những dự án phim có hơi hướng nghệ thuật, kén khán giả.

Lưu Huỳnh, người biên kịch và cũng là đạo diễn của "Áo lụa Hà Đông" từng chia sẻ rằng, khát vọng lớn nhất của anh ngày ấy là làm một bộ phim tôn vinh tà áo dài truyền thống của Việt Nam. Và nếu chỉ xét gọn trong khuôn khổ một tác phẩm, "Áo lụa Hà Đông" đã làm Lưu Huỳnh thoả tâm nguyện, nhất là khi nhiều đồng nghiệp vẫn nhắc đến bộ phim bằng sự ghi nhận rất tích cực. Nhưng tất cả chúng ta đều hiểu, điện ảnh khác với những môn nghệ thuật khác ở chỗ đầu tư của nó là cực lớn.

Vẽ một bức tranh, nếu không bán được, người hoạ sỹ cũng không buồn bởi mục đích thực chất của họa sỹ là tạo ra tác phẩm. Hơn nữa, đầu tư cho một bức tranh (về tài chính đơn thuần) cũng không quá lớn. Nhưng một bộ phim thì khác.

Đầu tư lớn tạo ra áp lực doanh thu phải tương xứng. Và khi doanh thu chưa tương xứng, điều đó đồng nghĩa với chuyện phim chưa tiếp cận được số đông khán giả. Ở khía cạnh này, khát vọng tìm sự đồng cảm của số đông trong quan niệm đẹp về tà áo dài của Lưu Huỳnh cũng coi như chưa đạt được thỏa nguyện.

Câu chuyện "Áo lụa Hà Đông" cho thấy thực sự việc xây dựng những tác phẩm điện ảnh đề cao giá trị của truyền thống, giá trị của dân tộc, tinh thần quốc gia là vô cùng thách thức. Nếu thể hiện nó khô cứng, chắc chắn việc chiếm cảm tình của giới chuyên môn còn không thể đạt được chứ đừng nói đến đại chúng. Nhưng thể hiện mềm mại, uyển chuyển, lớp lang đi nữa thì cũng chưa chắc đã chiếm được số đông mà "Áo luạ Hà Đông" là điển hình. Nhưng điều đáng mừng là thách thức kia dường như không đủ khiến những người làm điện ảnh Việt hôm nay chùn chân.

Năm 2017, "Cô Ba Sài Gòn" ra mắt và thắng lợi cả về chuyên môn lẫn doanh thu. Cũng như "Áo lụa Hà Đông", "Cô Ba Sài Gòn" cùng nhắm tới cái đích tôn vinh vẻ đẹp áo dài truyền thống của Việt Nam. Nhưng thứ khác biệt rất lớn mà "Cô Ba Sài Gòn" có được so với "Áo lụa Hà Đông" chính là câu chuyện.

Nếu câu chuyện của "Áo lụa Hà Đông" có phần bi thương vì chiến tranh (một ám ảnh quen thuộc của điện ảnh Việt Nam) thì "Cô Ba Sài Gòn" đời thường hơn, gần gũi với đời sống giới trẻ hơn. Chính vì thế, phim không chỉ thắng về giải thưởng, doanh thu mà còn thắng cả công chúng khi đã có cả trào lưu mặc áo dài kiểu "Cô Ba Sài Gòn".

Xem bộ phim, chúng ta dễ dàng liên tưởng đến cách kể chuyện gần gũi của bộ phim "Thợ may hoàng cung" của Hàn Quốc, cũng là tôn vinh tấm áo truyền thống của họ. Rõ ràng, kể chuyện thế nào, chọn đối tượng nghe chuyện ra sao và từ đó xây dựng câu chuyện phù hợp với họ là điều quyết định để có thể vượt qua thách thức khi làm phim tôn vinh giá trị truyền thống.

Năm nay, "Song Loan" ra mắt và cũng gây hiệu ứng khá tốt trong giới làm nghề. Thậm chí, có những người còn xem đi xem lại phim nhiều lần để phân tích, mà điển hình là Diễn viên điện ảnh - Đạo diễn Hồng Ánh.

Được gây cảm hứng từ "Song Loan", với đề tài ca ngợi nghệ thuật cải lương, Hồng Ánh thậm chí còn tổ chức buổi toạ đàm nhỏ xoay quanh bộ phim và có thể chính những hoạt động như vậy sẽ là điểm kích thích để những nhà làm phim dũng cảm hơn với đề tài tôn vinh giá trị truyền thống của dân tộc.

Nhưng có một thực tế đáng buồn là một bộ phim tử tế về chất lượng nghệ thuật như "Song Loan" đã không thuyết phục được khán giả tới rạp. "Song Loan" không thành công khi ra rạp cho thấy làm phim nghệ thuật tử tế trong xu thế giải trí hiện nay là khá khó khăn.

Rõ ràng, với sự xuất hiện của "Cô Ba Sài Gòn" và "Song Loan" liên tiếp trong 2 năm liền, chúng ta cần phải ghi nhận nỗ lực không ngại khó của những người làm phim Việt Nam hôm nay. Điều đáng ngợi khen là bản thân họ cũng còn trẻ tuổi và việc họ mê say bảo tồn, gìn giữ những giá trị của dân tộc cũng cho thấy giới trẻ không hề thờ ơ với những thứ mà chúng ta nghĩ là cũ, là cổ. Cái cơ bản nhất là chúng ta cần tìm được cánh cửa để mở tấm lòng của họ, mà như nói ở trên, cách kể chuyện cũng chính là một chìa khoá để mở cánh cửa ấy.

Văn Đoàn

Các tin khác

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.