Những vòng tròn văn hóa đồng tâm!

Ngày 15/12/2021, sau cuộc họp toàn thể tại Paris (Cộng hòa Pháp), tổ chức UNESCO đã chính thức ghi nhận Nghệ thuật xòe Thái (Việt Nam) là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đây không chỉ là niềm tự hào của văn hóa dân tộc Thái mà còn của cả nền văn hóa Việt Nam.

Từ nay những vũ điệu xòe không chỉ làm say mê bao người dân trong khu vực Đông Nam Á mà còn mở ra chinh phục không gian văn hóa nhân loại bởi tính cộng đồng, tinh thần dân chủ, bình đẳng, nhất là sự kết nối những tâm hồn cùng hướng về ánh sáng, về cái đẹp, niềm tin, hạnh phúc...

Thế mà, chỉ hơn nửa thế kỷ trước, nhà văn Nguyễn Tuân trong tùy bút “Xòe” nổi tiếng đã viết về điệu múa này với bao nỗi ai oán của những người dân mất nước thời trước 1954: “Ngoài sàn múa xòe kia, tiếng thác sông Ðà vẫn xô đá ào ào. Và trong đêm tiệc, máu đồng trinh cứ rỏ theo bước đi của đôi chân khiêu vũ, cô gái xòe cứ giẫm lên máu mình mà múa, rồi máu tươi ấy khô dần một đống trên một cuộc đời đã biến thành cái đệm, lớp máu đêm sau đóng vẩy lên lớp máu đêm trước, và cứ thế, cứ thế...”.

Đất nước bị nô lệ thì nghệ thuật cũng bị nô lệ. Nghệ thuật xòe bị bọn chúa đất chúa bản biến thành trò chơi của riêng. Những bà mẹ có con gái đẹp lại xòe giỏi thì thật khổ đau, nhất là trong những ngày Tết vì con họ phải sống trong địa ngục: “Cái Tết của cô gái xòe ở nhà chúa đất Tây Bắc sao mà nó dài quá. Tiệc rượu phải hầu đứng, chỉ được uống không được ăn, máu dồn xuống chân, buồn thương mà phải cười, nước mắt cay nồng mùi men, chân múa tay múa mà lòng cô xòe, đội xòe để ở những đâu đâu”. Lịch sử miền Tây Bắc vẫn ghi nhớ chúa đất Ðèo Văn Long có nhiều những đội xòe như vậy...

image003.jpg -0
Điệu “xòe quạt”.

Bộ đội ta giải phóng Tây Bắc. Từ đấy những cô gái được múa trong không gian tự do, múa cho đồng bào mình xem. Nghệ thuật xòe như hoa nở dưới ánh mặt trời. Nhịp múa tươi vui, khỏe khoắn, có hồn hơn!

Là nghệ thuật tiêu biểu của văn hóa Thái thể hiện tập trung đặc trưng cuộc sống sinh hoạt, lao động, tâm hồn và bao khát khao những điều may mắn, ấm áp, tốt lành của đồng bào miền Tây Bắc, xòe được thực hành trong các lễ hội cộng đồng Xên mường (Cúng mường), Xên bản (Cúng bản), Xên lẩu nó (Cúng rượu măng), Hết chá (Lễ tạ ơn), các lễ hội cầu mưa, xuống đồng, các lễ cúng tổ tiên, lễ tang ma, lễ cúng vía, cúng ruộng, trong đám cưới, lễ mừng nhà mới, mừng sinh nhật…

Có khoảng 30 điệu xòe xếp trong 3 nhóm chính là xòe nghi lễ (các lễ hội bản, mường, lễ cúng) với các điệu múa Dâng lễ, múa Cầu vong, Cầu vía... Xòe biểu diễn do một nhóm múa nhỏ mang tính trình diễn kết hợp với các đạo cụ, như khăn (xòe khăn), nón (xòe nón), quạt (xòe quạt), xòe sạp, xòe nhạc, xòe gậy... Xòe giải trí diễn ra trong các sinh hoạt giải trí của cộng đồng mang tính cộng cảm cao ở sự giao lưu, kết nối. Điệu xòe vòng (xoé voóng) tiêu biểu cho Xòe giải trí có số lượng người tham gia không giới hạn.

Các điệu xòe này đều có gốc gác từ 6 điệu xòe cổ: “Khắm khăn mơi lảu” (Nâng khăn mời rượu); “Phá xí” (Bổ bốn); “Đổn hôn” (Tiến lùi); “Nhôm khăn” (Tung khăn); “Ỏm lọm tốp mư” (Vòng tròn vỗ tay); “Khắm khen” (Nắm tay). Điệu xòe “Nhôm khăn” rộn ràng với chiếc khăn dài quàng qua cổ, hai tay tung khăn theo nhịp trống giòn giã miêu tả cảnh tưng bừng mùa màng bội thu. Điệu “đổn hôn” theo nhịp chân tiến lên, lùi xuống như muốn nói cuộc sống dù có lúc này lúc khác lúc yên ả êm đềm lúc mưa sa lũ cuốn nhưng niềm tin con người vẫn vẹn nguyên, bền vững cùng hướng về nhau...

Theo nhiều nghệ nhân tả lại thì nhạc xòe cổ chỉ gồm 1 trống, 2 cồng, 1 chũm chọe nhưng lại nói lên quan niệm của người xưa về vũ trụ. Tiếng trống biểu trưng cho âm thanh của mặt đất, tiếng cồng là âm vọng của bầu trời, tiếng chũm chọe là âm thanh “phồn sinh”, “phồn thực” của muôn loài. Ba giai điệu lặp đi lặp lại theo tiếng nhạc “tùng tùng rinh, rinh rinh tùng” cũng là biểu trưng cho 3 vía trời, đất, người.

Xa xưa, giữa vòng xòe là một cây cột (xén xính) biểu trưng cho cây vũ trụ, trên ngọn treo nhiều hình thù các con vật, hình mặt trăng, mặt trời... được đan bằng tre hoặc đẽo bằng gỗ rất khéo. Cây vũ trụ này có thể là sự “chuyển di” từ phong tục “hạn khuống” rất đậm trong sinh hoạt văn nghệ dân tộc Thái. Trong “Tiễn dặn người yêu” (Xống chụ xon xao) “hạn khuống” được dịch là “sàn hoa”, đúng nghĩa đen là “sàn sân” (“hạn” nghĩa là sàn, “khuống” nghĩa là sân) là vì ở giữa cái sàn cao làm sân biểu diễn ấy luôn có một cây vũ trụ lớn, bốn góc sân/sàn là bốn cây vũ trụ nhỏ. Trên các cây ấy treo hình các con vật, nhiều hơn cả là các loài hoa, nhìn từ xa màu sắc lung linh trông rất đẹp. Nhà văn Mạc Phi (người dịch “Xống chụ xon xao”) dịch “sàn hoa” là rất tinh tế!

Tùy thuộc không gian diễn xướng, cây cột có khi được thay bằng đống lửa luôn rừng rực cháy tỏa sáng đêm xoè, tỏa ấm không gian, xóa nhòa thời gian. Ngọn lửa bập bùng như giục giã, như mời gọi những bàn tay nắm lấy những bàn tay cùng múa trong đêm hội ấm áp tình người. Lại có khi “tâm xòe” là một hũ rượu cần... Hội xòe càng đông càng vui, như thúc giục cây cối trong vườn đơm hoa kết trái, cây lúa trên nương sây hạt nặng bông, như giục đàn gà, đàn lợn đông đúc hơn, đàn trâu trên rừng thêm béo tròn...

image001.jpg -0
Điệu “Vỗ tay đi vòng tròn”!

Là nghệ thuật của không gian, ở những nơi vòng xòe không thể nới rộng hơn, người múa sẽ tách vòng ra làm 2, 3 vòng tròn đồng tâm. Vòng này xuôi theo kim đồng hồ thì vòng kia ngược lại. Hội xòe chỉ kết lại bằng điệu “Vỗ tay đi vòng tròn” trong niềm hân hoan hứng khởi rồi lưu luyến bịn rịn. Âm nhạc của xòe cũng ngày một đa dạng hơn nhờ sự tham gia của các nhạc cụ tính tẩu, kèn loa, khèn bè, trống, chiêng, pí pặp, mák hính... Vòng xòe luôn mở cho bất cứ ai, không phân biệt tuổi tác, địa vị đều có thể nắm tay nhau để rồi cứ muốn nắm mãi tay nhau mê mải trong điệu múa... Đây là một đặc điểm được UNESCO đánh giá cao ở tinh thần đối thoại nhân văn bình đẳng, dân chủ, chia sẻ, tôn trọng lẫn nhau, cùng nhau hướng về ngọn lửa tái sinh đang rừng rực cháy.

Đồng bào Thái coi nghệ thuật Xòe như một điểm tựa tinh thần trong cuộc sống lao động cũng như trong đời thường: “Không xòe không vui/ Không xòe cây ngô không ra bắp/ Không xòe cây lúa không trổ bông/ Không xòe trai gái không thành đôi”. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì điệu xòe “Khắm khen” (Nắm tay nhau) ra đời trước nhất được hình thành trong quá trình lao động từ thuở sơ khai để biểu thị sự gắn kết cộng đồng. Có niềm vui cùng nắm tay nhau nhảy múa. Gặp lúc hoạn nạn cùng nắm chặt tay nhau chung sức đồng lòng.

Sau này lan tỏa trong đời sống dân gian, xòe được chỉnh lý, cải biên, nâng cao, hoàn thiện rồi được nâng lên thành nghệ thuật biểu diễn vừa đậm chất dân gian vừa mang tinh thần bác học khá rõ. Bản thân quy luật này cũng đã cho thấy mặt tích cực và bất cập luôn song hành. Môi trường diễn xướng đang có sự thay đổi. Xòe nguyên thủy thường diễn ra trong không gian bản thì ngày nay rộng hơn, là sân trường học, sân cơ quan, sân vận động... Âm nhạc được khuếch đại qua loa điện tử... Vòng xòe rộng hơn nhưng rõ ràng tính chất thay đổi, có thể đông nhưng không hẳn vui bằng ngày xưa... Chưa kể đến thời gian diễn xướng, các điệu múa, các đạo cụ, trang phục, nhạc cụ đệm... đang có nguy cơ làm thay đổi tính nguyên bản của Xòe truyền thống.

Ngày xưa chỉ có người nữ xòe, ngày nay cả nam, và bất cứ ai, kể cả người nước ngoài đều có thể tham gia. Thực tế ấy càng cho thấy điệu xòe cổ đang có nguy cơ phai nhạt (vì người lạ làm sao múa đúng điệu được!). Mà ai cũng biết truyền thống phải là cái gốc, phát triển là ngọn, là cành lá. Cây nghệ thuật xòe chỉ có thể xanh tươi nhờ cái gốc nguyên bản vững vàng cắm sâu chùm rễ vào mảnh đất phong tục, tập quán kết tinh trong đó tâm hồn, tính cách, khát vọng, ước mơ có từ lâu đời của văn hóa Thái! Như vậy, bên cạnh niềm vui được khẳng định, vinh danh chúng ta cần có những biện pháp khả thi để giữ gìn, phát triển tài sản vô giá này.

Một bài học của thế giới là đi đôi với giáo dục tình yêu di sản là bồi dưỡng năng lực tiếp nhận thẩm mỹ cho công chúng. Theo ý nghĩa này thì phải tăng cường hơn nữa việc quảng bá, giới thiệu, nên đưa vào các nhà trường phổ thông dạy ngoại khóa các điệu xòe cổ, các hình thức múa cơ bản nhất để nhân rộng. Để khi ai đó tham gia vào vòng xòe là một dịp để họ nhập thân trọn vẹn, được sống hết mình cùng với những điệu dân vũ mê say ấy! 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).