Những trang văn ám ảnh

Đọc tập truyện “Hành trình của người lính” của Lê Hoài Nam, NXB Hội Nhà văn, 2016).

Mỗi nhà văn đều đến với bạn đọc bằng con đường riêng của mình. Có những người thích dấn thân tìm kiếm những miền đất và con người mới lạ để thỏa sức khám phá. Lại có người thích đi sâu vào những vùng đất và những con người mình đã quen thuộc - nhất là khi nó ngấm sâu vào máu thịt và biến thành một vùng kí ức không thể nào quên! Có lẽ Lê Hoài Nam là nhà văn thuộc loại thứ hai, bởi ông đã có mười sáu năm trong quân ngũ, để rồi trong vòng hai năm liên tục xuất bản hai tập truyện về đề tài chiến tranh cách mạng: “Đi qua Gạc Ma tới đảo Sinh Tồn” (2014) và “Hành trình của người lính” (2016).

Đề tài về chiến tranh không phải là mới song nó cũng không bao giờ là cũ. Bởi hiếm có một dân tộc nào như Việt Nam, trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước, các cột mốc quan trọng đều thấm đẫm máu xương của biết bao người con ưu tú đã ngã xuống để bảo vệ từng tấc đất của cha ông. Chỉ có điều, đến nay chiến tranh đã được nhìn nhận lại, ở góc độ khác nhau, con người hơn, nhân văn hơn. Vì thế, “Hành trình của người lính” vừa mới xuất bản song đã nhận được không ít bài nghiên cứu, đánh giá của giới phê bình. Vậy điều gì đã làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm? Với tôi, thì đó là một sự ám ảnh!

Bìa cuốn “Hành trình của người lính” của nhà văn Lê Hoài Nam.
Bìa cuốn “Hành trình của người lính” của nhà văn Lê Hoài Nam.

Viết về chiến tranh, cũng như thế hệ nhà văn sau năm 1975, Lê Hoài Nam không tráng lên một lớp men hồng mà ông đi thẳng vào những mảng màu thô nhám, những khoảng tối, những góc khuất của chiến tranh. Đó là hiện thực khốc liệt của cuộc chiến. Chiến tranh luôn gắn liền với những nguyên tắc phi nhân (L.Tolstoi), có sức hủy diệt khủng khiếp đối với con người.

Trong “Cuộc gặp gỡ muộn mằn” là sự hi sinh tức tưởi của những người lính trẻ măng - những chàng sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường đã phải xếp bút nghiên lên đường chiến đấu. Bốn người lính ấy là Chương, Học, Tảo, Quế. Học bị đạn bắn “hất tung xác lên cao hàng chục mét”. Quế thì bị dính mìn, mất cả hai chân. Còn Tảo thì hi sinh trong hoàn cảnh ai oán khi anh bị điếc (hậu quả sau tiếng nổ từ chiếc chiến xa của kẻ thù do anh bắn cháy) và đang ngồi “hố mèo” (đào lỗ, đi vệ sinh). Rồi trong “Xạ thủ”, “Chuyện rồi sẽ kể”, những cái chết thương tâm ấy vẫn diễn ra như một phần tất yếu của chiến tranh. Tỉ mỉ và đau đớn.

Sau năm 1975, văn học đã có sự nhìn nhận lại, các nhà văn không chỉ tiếp cận con người ở tư cách công dân mà còn ở phương diện cá nhân. Tức là, có những người, dù lí tưởng chung là cao đẹp, song trong sinh hoạt cá nhân, họ vẫn mắc những sai lầm, thậm chí ích kỉ, hẹp hòi. Đó là Trung đoàn trưởng Bùi Hạ (Xạ thủ) có tài, lập được nhiều chiến công nhưng tính tình nóng nảy, hống hách và hay chấp vặt. Là sự thiếu trách nhiệm của hai người lính trẻ Chương và Tảo (Cuộc gặp gỡ muộn mằn). Sai lầm của họ đã khiến cho đồng đội bị quy vào tội đảo ngũ, “chiêu hồi”, thậm chí tan nát gia đình.

Đáng nói nhất là nhân vật Đồng Quý Phái trong “Hành trình của người lính”.  Con người này ta như bắt gặp đâu đó trong cuộc đời. Nó thật đến mức tưởng như nhân vật đã bước ra khỏi trang viết để sống một cuộc đời thực của mình. Đồng Quý Phái cũng có những mặt tốt nên anh mới trở thành sĩ quan (trung úy) ở Phòng Ngoại vụ Quân khu.

Đẹp trai, giỏi tiếng Anh, tuy nhiên, ẩn trong con người đó vẫn có sự giả dối, ích kỉ, thù dai và nhẫn tâm. Bản thân đã có vợ con nhưng khi gặp Lượt - người nữ chiến sĩ 19 tuổi trẻ trung, sắc sảo, bản lĩnh thì Quý Phái đã giấu nhẹm việc có gia đình để tán tỉnh Lượt. Hậu quả khiến Lượt có thai, phải phá bỏ và mất đi khả năng làm mẹ. Rồi Đồng Quý Phái còn xúi giục Vũ Thị Lượt tìm cách đẩy Lê Hiệp Hòa - một người lính trung thực đã có nhiều chiến công phải ra khỏi Tỉnh đội về đơn vị chiến đấu vì cho rằng Hòa đã rình mò quan hệ của họ.

Qua những trang văn, Lê Hoài Nam đã cho chúng ta thấy rằng con người ta không ai là hoàn hảo cả. Tuy nhiên, với cái nhìn trìu mến, thấu hiểu của một nhà văn đã trải qua những năm tháng đau thương, mất mát của đất nước, Lê Hoài Nam không bao giờ để cho nhân vật của mình xấu hoàn toàn. Chính sự thức tỉnh, sự sám hối của các nhân vật là những chi tiết đắt để chất nhân văn được tỏa sáng.

Sứ mệnh của nhà văn chân chính không phải chỉ biết lên tiếng tố cáo cái ác, mà còn phải đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người để nâng đỡ, ngợi ca. Các nhân vật của Lê Hoài Nam luôn có sự đấu tranh với hoàn cảnh, với chính mình để hoàn thiện bản thân.

Trong “Hành trình của người lính”, bên cạnh một Đồng Quý Phái ích kỉ, nhỏ nhen, người đọc vẫn thấy sự hướng thiện của anh ta khi hàng năm luôn đến nghĩa trang thành phố thắp hương tưởng nhớ Lưu Phương Lan, người nữ đồng đội đã hi sinh. Phải chăng anh ta muốn sám hối, muốn đi tìm sự thanh thản trong tâm hồn để bù đắp những sai lầm đã gây ra? Bên cạnh một Trung đoàn trưởng Bùi Hạ hống hách là sự ăn năn khi đã đuổi người lính xạ thủ giỏi ra khỏi đơn vị (Xạ thủ).

Cũng trong “Hành trình của người lính”, ta thấy vẻ đẹp nhân văn trong tâm hồn của những người lính như Lê Hiệp Hòa và Nguyễn Phiền. Dẫu phải trải qua rất nhiều khó khăn, thử thách và mất mát do chiến tranh để lại nhưng họ vẫn sáng ngời vẻ đẹp của đức hi sinh, lòng vị tha, nhân ái. Hòa đã tha thứ cho Lượt tất cả những lỗi lầm trước kia, còn Phiền đã chấp nhận thương đau để mang đến cho cô một hạnh phúc gia đình thực sự. Rồi các nhân vật như người cựu chiến binh tên Đính (Thung lũng sỏi), chiến sĩ Thuyên (Sói con), chiến sĩ Nghinh (Chuyện rồi sẽ kể)… đều hiện lên là những người lính đẹp đẽ vô cùng. Nhà văn đã cho chúng ta thấy một niềm tin đau đáu vào sự hướng thiện của con người.

Cách kết thúc của các câu chuyện cũng rất có hậu. Một tương lai với những niềm tin, hi vọng đã được Lê Hoài Nam hé mở. Tác giả không nói nhiều song bạn đọc đều có thể cảm nhận được điều đó. Kết thúc “Sói con” là dòng email hứa hẹn một cuộc hội ngộ hạnh phúc sẽ đến giữa người chiến sĩ Thuyên với cậu bé hoang dã năm xưa anh cứu, nay đã thành một thành viên trong hội đồng quản trị của một công ty thương mại. Ta tưởng như đây là cái môtip “trồng cây và được ngày hái quả”. Kết thúc “Cuộc gặp gỡ muộn mằn” là niềm hi vọng về sự oan khuất của người lính sẽ được hóa giải.

Với “Kí ức đường 9” là niềm xúc động của hai người lính trước tấm lòng bao dung của Tướng Nguyễn Huy Hiệu trước những suy nghĩ thiển cận của họ khi xưa. Nó giống như sự “đốn ngộ” của tâm hồn. Xúc động nhất là kết thúc của truyện dài “Hành trình của người lính”. Ở đây, nhà văn đã cho chúng ta thấy sức mạnh của tình yêu thương là vô cùng to lớn, nó vượt lên trên tất cả, giúp người ta chiến thắng cả đau thương, mất mát.

Ám ảnh sau khi gấp lại những trang văn trong “Hành trình của người lính” là những triết lí, thông điệp mà nhà văn gửi gắm. Nó được phát biểu trực tiếp hoặc gián tiếp qua đối thoại, độc thoại của các nhân vật.

Có những triết lí về nghệ thuật, về nghề văn: “Các tác phẩm của Tường Khuê... thường viết về những trạng huống bình dị, những con người bình thường, nhưng ông nhìn thấy từ bên trong trạng huống ấy, con người ấy le lói một điều gì đó, nhiệm vụ của ông là làm cho tia le lói đó lấp lánh lên, soi rọi vào tâm hồn bạn đọc để họ cùng ông ngẫm ngợi về lẽ đời, về thân phận, về nhân sinh” (Phúc lành).

Có những triết lí về sự tồn tại của con người trong cuộc sống mà ta không khỏi ngao ngán. Ấy là lời của Bảnh truyền lại kinh nghiệm sống cho Hòa (Hành trình của người lính): “Phải biết sống chung với sự phi lý như đồng bào ở đồng bằng sông Cửu Long sống chung với bão lũ. Ngược lại, sẽ bị chính bão lũ nó tiêu diệt”. Ở đây, tác giả đã chỉ ra cho ta thấy một thực trạng trong xã hội: Để tồn tại, con người trong không ít trường hợp phải biến đổi theo hoàn cảnh, phải sống méo mó không đúng là mình, phải chấp nhận kiểu sống ngoài một đằng trong một nẻo. Đồng thời ta như thấy đâu đây tấm lòng trăn trở của nhà văn: phải làm sao để con người được là chính mình, được sống với đúng thiên chức cao quý - là người?

Có thể nói, “Hành trình của người lính” chính là hành trình tái hiện lại một cách chân thực sự khốc liệt của chiến tranh, mặt sáng - tối trong con người, nhưng trên hết là hành trình tìm kiếm, ca ngợi vẻ đẹp nhân văn của cuộc đời.

Vĩnh Yên, tháng 5-2016

Nguyễn Thị Thanh Hương

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).