Những tiếng cười yêu nước

Khi thực dân Pháp nổ tiếng súng xâm lược nước ta, nhiều tiếng cười phẫn uất chửi thẳng vào lũ vua quan, như tiếng cười của nhà cách mạng Phan Bội Châu: “Non sông thẹn với nước nhà/ Vua là tượng gỗ dân là thân trâu” (Á tế Á ca). Chúng tôi xin giới thiệu thêm bốn tiếng cười trào phúng của Nguyễn Thiện Kế, Học Lạc, Kép Trà, Phan Điện với bốn phong cách khác nhau hướng vào lũ vua quan phong kiến và thực dân Pháp, qua đó để thấy phần nào tinh thần và ý chí của nhân dân ta những năm đầu thế kỷ XX.

1. Mạnh mẽ và trực tiếp đả kích bọn quan lại, không kể lớn nhỏ là Nguyễn Thiện Kế (1849-1937) - nhà trào phúng lớn những năm đầu thế kỷ XX với tiếng cười vang, quyết liệt, thẳng thắn, đốp chát. Nhà thơ là em ruột sĩ phu yêu nước Nguyễn Thiện Thuật, là anh rể nhà thơ Tản Đà, tự là Thuật Giai, hiệu Nễ Giang, quê huyện Tiên Lữ (Hưng Yên), đỗ Cử nhân năm 1888, được bổ làm tri phủ Từ Sơn (Bắc Ninh). Ông có 10 bài chửi thẳng bọn quan to (Đại viên thập vịnh) và 30 bài chửi bọn quan nhỏ (Tiểu viên tam thập vịnh), sau này chọn in thành tập “Thời hiền bách vịnh” (Trăm bài vịnh các nhân vật có tiếng).

image001.jpg -0
Biếm họa đả kích nạn thuế khóa trên Báo Ngày nay (1939).

Đặc điểm của tiếng cười Nguyễn Thiện Kế là chửi thẳng đích danh từng viên quan một, không úp mở, chỉ mặt từng quan rồi kể từng tội. Đây là chân dung một viên tri huyện: “Cụ huyện nhà ta mẹo đã cao/ Chẳng thời chè lá chỉ thời mao”. Ông này chỉ thích tiền (chỉ thời mao), thế nên rất thích chuyện kiện tụng để có cớ đục khoét: “Quan gật đầu, vơ ních tráp vào” (Vịnh tri huyện Lê Văn Chấn). Một bài thơ khác “Vịnh Từ Đạm” được làm khi viên quan này còn làm Án sát.

Quan án Từ Đạm từng đỗ Tiến sĩ, làm quan đến chức Tổng đốc nhưng là tay sai của thực dân Pháp lại hay dở dói chuyện văn chương: “Lại nảy nòi ra họ chích choè/ Quan thì Án sát đỗ thì nghè/ Áo xiêm đủng đỉnh coi ra vẻ/ Cờ bạc rong chơi đủ mọi nghề/ Tây một chuyến sang chơi đã thoả/ Nam hai lần lại ních đầy phè/ Nay mai tuần phủ nhiều nơi khuyết/ Sao sáng ông toan bóng lập loè”.

Tại sao nhà thơ lại gọi quan là “họ chích choè”? Đấy là lối chơi chữ hài hước, chữ “Từ” có bộ “chích”, nên bị gọi bỡn là “chích choè”. Nhưng đến câu “Cờ bạc rong chơi…” thì là mỉa, làm quan, là Tiến sĩ mà không chú ý phận sự lại chỉ biết chuyện cờ bạc. Còn tham nhũng nữa, chỉ biết “ních đầy phè”. “Nay mai” tuyển người vào làm việc trong phủ, hắn ta lại có một dịp kiếm chác.

Chửi một vị Thám hoa giữ chức Đốc học, tác giả hạ bệ một cách thảm hại bằng cách đối lập triệt để nhân cách của ông ta với danh vị “Thám hoa”: “Thám hoa gì nó! Thám “hoa xòe”/ Mỗi quyển tam nguyên ních chẻ hoe/ Cò lợp nón lông, đầu ngất nghểu/ Ngựa luồn chân chỉ, đít xun xoe/ Ba cha cậy thế thừa lên mặt/ Hai vợ ghen xuân, suýt mất ghe/ Xóc đĩa, cù lồng ngày chủ nhật/ Đồng văn hai chữ nịnh Măng hoe”.

Vị “Thám hoa” bị đưa ra giễu từ ngoại hình dị biệt “Cò lợp nón lông, đầu ngất nghểu” đến tính cách hống hách cậy quyền cậy thế, tham nhũng và nhất là tội nịnh Tây. Hắn chính là “Thám hoa” Vũ Phạm Hàm từng ngang nhiên bặt chẹt học trò cứ mỗi quyển thi “ăn lễ ba đồng”.

Dư luận thời ấy xôn xao truyền tai nhau bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Thiện Kế, bài “Vịnh Tri phủ Quảng”: “Khen thay phủ Quảng khéo ranh ngầm/ Phò nịnh anh Tây, cõng mẹ đầm/ Đôi vú ấp vai đầu nghển nghển/ Hai tay ôm đít mặt hầm hầm/ May mà vững gối, nhờ ơn tổ!/ Khéo chẳng sa chân, chết bỏ bầm/ Ngoảnh bảo Huyện Hòa ôm váy hộ/ Rỉ tai, nhăn mặt, bảo nhau thầm”.

Bài thơ thật ác mỉa anh tri phủ Quảng Oai (tỉnh Sơn Tây cũ) nịnh Tây bằng cách cõng vợ viên công sứ to béo đi qua chỗ lội. Qua phép tiểu đối “Đôi vú ấp vai đầu nghển nghển/ Hai tay ôm đít mặt hầm hầm” đã làm nổi bật hình ảnh thảm hại của viên tri phủ vốn dĩ gầy gò lại phải cõng bà đầm to béo, đôi vú bà đầm đè lên cái lưng còi, hai tay phải vòng ra “ôm đít”… Chưa hết, hắn vẫn còn đủ sức quay lại bảo người khác ôm váy bà đầm hộ vì nó dài quá. Thế là phải hai quan huyện ta cùng phục vụ một bà đầm, Tri phủ Quảng “cõng” còn huyện Hòa “ôm váy”. Câu cuối vừa ác, vừa đau, vì… nhục quá và cũng… khó chịu quá “Rỉ tai, nhăn mặt, bảo nhau thầm”!

2. Kép Trà (1873-1928) tên thật là Hoàng Thụy Phương, tên thường gọi là Trà, đỗ Tú tài hai khoa nên được gọi là Kép Trà. Tiếng cười Kép Trà gắn với đời sống xã hội thực tế quê mình (huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam). Trong 21 bài thơ trào phúng, có 12 bài đả kích đối tượng quan lại cấp tỉnh, huyện (tri huyện, tri phủ, quan tỉnh, chủ yếu là các quan tỉnh Hà Nam và các huyện trực thuộc). 9 bài còn lại hướng vào các đối tượng chánh tổng, nha lệ, quản đề lao, trợ tá, “cụ lớn Hàn”. Có 18/23 bài nêu đích danh tên các quan: tri phủ Hà Duy Thành, tri huyện Lê Hữu Tích, tri huyện Đoàn Ngưng, tri huyện Nguyễn Hữu Hậu, các tri huyện Lê Liêm, Vũ Tuân, Phó Bá Thuận…

Đây là một chân dung quan Phó bảng bị chửi rất đau: “Quan quách chi mày Phó bảng Tuân!/ Làm cho hại nước lại tàn dân/ Trói thằng đánh dậm, lần lưng khố/ Bắt đứa hoang thai liếm cả quần/ Lên mặt nhà Nho cho hổ phận/ Nhờ đồ con đĩ mới nên thân/ Thôi thôi còn nói làm chi nữa/ Nó lại thông gia với Đốc Trần”. Ở đây là chửi vỗ mặt, chửi thẳng một tên ăn hại, vơ vét bóc lột dân tình đến mức vô liêm sỉ, ăn bẩn của cả thằng đánh dậm, đứa hoang thai… nên công trạng không phải do tài cán gì mà “nhờ đồ con đĩ”. Phải có lòng dũng cảm mới có tiếng cười chửi vỗ mặt như thế!

image002.jpg -0
Biếm họa đả kích nạn chè chén trên Báo Ngày nay (1939).

Nhưng cũng có đôi bài Kép Trà nhẹ nhàng hơn bằng cách dùng những ẩn dụ mỉa mai các quan tưởng là giúp dân mà kỳ thực là bóc lột dân: “Nước lụt năm nay khó nhọc to/ Thương dân nha lệ dốc lòng lo/ Chửa nhai tre hết còn nhai bạc/ Mới bắt trâu xong lại bắt bò” (Nha lệ thương dân). Quan này cũng thật phi nhân tính, chẳng còn chút tình người vì bóc lột dân đúng vào lúc dân gặp nạn. Nước lụt đến, tưởng lo cho dân thế nào, lại nhân dịp dân góp tre đóng cọc chống lụt thì quan lại “nhai” cả “tre”, rồi “nhai” cả “bạc”. Chưa hết, nguồn sống của dân là con trâu con bò, quan cũng bắt nốt…

3. Phan Điện (1874-1945) được gọi là nhà thơ ngông xứ Nghệ, đã từng có hàng chục bài thơ trào phúng giễu các quan đại thần Hoàng Cao Khải, Dương Lâm… Tiếng cười Phan Điện nhẹ nhàng hơn Nguyễn Thiện Kế, Kép Trà. Giọng mỉa mai của ông không vỗ mặt mà như con dao sắc lách sâu vào tim gan đối tượng: “Quan như cụ quận cũng là to/ Nghĩ kỹ còn nhiều cái việc lo/ Nay hạt Hà Đông còn biếu lợn/ Mai dân Nam Định lại dâng bò/ Gọi người làm cỗ sao cho chóng/ Thết khách còn thừa liệu phải cho/ Sung sướng ai bằng thằng bố Điện/ Say rồi ôm vợ ngáy kho kho”.

Lời thơ mở đầu tưởng như là sự “thông cảm” với nỗi “lo” của “cụ”. Cụ phải lo là vì người ta nay “biếu lợn”, mai “dâng bò” nên phải “làm cỗ” thết khách, thừa phải đem cho. Cuối bài là sự so sánh “cụ quận” với chính “thằng bố Điện” chẳng phải lo nghĩ gì, say thì ôm vợ. Bài thơ có phần “mát mẻ” nhưng đối chiếu với thực tế ngoài đời, thì ra là “cụ” đã quen vơ vét dân. Bắt dân phải “biếu” phải “dâng” cũng là một “phong cách” của “cụ”.

4. Học Lạc (1842-1915) tên thật là Nguyễn Văn Lạc, bút hiệu Sầm Giang, quêtỉnh Mỹ Tho. Các tỉnh Nam bộ đi đầu trong việc chống Pháp nên nhà thơ trào phúng Nam bộ này hướng tiếng cười vào những vị quan hèn nhát. Đây là tiếng cười về ông Hộ đốc Nguyễn Công Nhàn được lệnh ngăn quân Pháp: “Có quan hùng dũng Nguyễn Công Nhàn/ Hùng dũng ai mà lại nhát gan/ Giặc tới Bến Tranh run lập cập/ Tàu vô Cửa Tiểu chạy bò càng/ Mưu thần trước biết ngang sông chắn/ Kế giữ sau toan đóng cũi hàng/ Thất thủ muốn liều cho giữ tiết/ Ngặt vì con, vợ bận chưa an” (“Vịnh quan hùng dũng Nguyễn Công Nhàn”).

Bài thơ kết cấu đối lập, đối lập biệt hiệu, quan Hộ đốc có tiếng là “hùng dũng”, cầm quân giỏi được giao nhiệm vụ ngăn giặc, thế mà lại “nhát gan” đến mức: “Giặc tới Bến Tranh run lập cập/ Tàu vô Cửa Tiểu chạy bò càng”. Tức chưa gặp giặc mà đã run, đã chạy. Rồi cũng xấu hổ mà liều “thất tiết” như các vị đi trước nhưng lại vì “vợ con” mà chẳng dám… Phần lớn tiếng cười Học Lạc chĩa vào lũ tay sai và những thói rởm đời đáng cười ở nông thôn Nam bộ.

Đó là bốn tiếng cười như làn roi quất vào lũ cướp nước và bán nước rất nên được chú ý.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân đã dành thời gian hơn một năm để biên soạn cuốn sách chuyên khảo công phu có tên gọi “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết”. Tác phẩm có dung lượng 600 trang với nhiều thông tin bổ ích này vừa được Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành.