Trao đổi xung quanh bài viết “Sách về Thái sư Lê Văn Thịnh:

Những sai sót không đáng có” của tác giả Kiều Mai Sơn: Nói thêm để rõ hơn

Ngày 16/3, trên Báo Văn nghệ Công an có bài viết: “Sách về Thái sư Lê Văn Thịnh: Những sai sót không đáng có” (báo điện tử đăng ngày 17-3) của tác giả Kiều Mai Sơn. Nội dung bài viết phân tích một số sai sót trong sách “Thái sư Lê Văn Thịnh (1050 – 1096): cuộc đời và thời đại” (NXB Khoa học xã hội, 2016) do Hội Sử học Hà Nội biên soạn. 

Là người đã đọc cuốn sách này, và cũng từng tìm hiểu về nhân vật Thái sư Lê Văn Thịnh trong nhiều năm, và còn chuẩn bị xuất bản một cuốn sách về Thái sư Lê Văn Thịnh, tôi xin có một số trao đổi và cung cấp thêm một số tư liệu xung quanh bài viết của tác giả Kiều Mai Sơn và về nhân vật Thái sư Lê Văn Thịnh.

Thứ nhất, cuốn sách “Thái sư Lê Văn Thịnh (1050 – 1096): cuộc đời và thời đại” có sai sót về chính tả khi viết sai tên triều vua từ “Duy Tân” thành “Duy Tâm”. Gần đây, tôi đến đền Hiệp Sơn nằm trên núi Thiên Thai thờ Thái sư Lê Văn Thịnh thì thấy đền chỉ còn lưu giữ được hai đạo sắc. Một đạo sắc phong vào năm Tự Đức năm thứ 10 (1857), và một đạo vào năm Duy Tân thứ 3 (1909).

Cổng đền Thái sư Lê Văn Thịnh – nơi tìm ra tượng rồng đá. Ảnh: Từ Khôi.
Cổng đền Thái sư Lê Văn Thịnh – nơi tìm ra tượng rồng đá. Ảnh: Từ Khôi.

Thứ hai, cuốn sách đề cập đến bài viết của PGS Tống Trung Tín khi viết sai về năm xảy ra vụ án hồ Dâm Đàm là năm 1906. Và cho đó là theo sử cũ. Kiều Mai Sơn dẫn sách “Đại Việt sử ký toàn thư” về năm xảy ra vụ án.

Thế nhưng, Kiều Mai Sơn lại dẫn sai và cho rằng năm xảy ra vụ án là năm Ất Hợi (1095) và tới năm 1096 thì Lê Văn Thịnh bị đày đi Thao Giang. Bạn đọc có thể kiểm chứng lại sách “Đại Việt sử ký toàn thư” sẽ thấy vụ án xảy ra vào tháng 3 năm 1096. Còn trong sách “Đại Việt sử lược” lại viết vụ án xảy ra vào tháng 11. Tại sao hai bộ sử lớn lại “vênh” nhau về thời gian xảy ra vụ án? Hai khoảng thời gian cách nhau hơn nửa năm, nhưng đều có hình thái thời tiết tạo ra sương mù trên hồ Dâm Đàm (hồ Tây) thời đó.

Kiều Mai Sơn viết: “Trang 159, viết về chùa Bảo Tháp, PGS Tống Trung Tín khẳng định: “Chắc chắn, chùa này thời Lý là tháp cho nên địa danh làng có tên là làng Bảo Tháp”. Đây là khẳng định võ đoán, không có cơ sở”. Tôi đồng tình với Kiều Mai Sơn khi cho rằng là một nhà khảo cổ, PGS Tống Trung Tín nên dựa vào khảo cổ để khẳng định chùa Bảo Tháp trước kia là tháp.

Theo nghiên cứu của tôi thì mới đây, trong quá trình phá chùa Bảo Tháp (có tên là Thiên Thư tự) cũ để xây dựng chùa mới ra khoảnh đất liền cạnh đã không phát hiện dấu vết của kiến trúc tháp. PGS Tống Trung Tín viết chùa Bảo Tháp theo truyền thuyết dân gian là nơi nhà ở của Thái sư Lê Văn Thịnh là có cơ sở.

Tại đền thờ Thái sư Lê Văn Thịnh liền cạnh chùa hiện vẫn còn bức đại tự: “Lê trạng nguyên cố trạch”. Dịch nghĩa là: “Nhà cũ của trạng nguyên họ Lê”. Và một tấm bia đề: “Thái sư tự bi ký”. Nghĩa là: “Bia ký chùa Thái sư”.

Dân gian truyền rằng, sau vụ án thì nhà cửa của Thái sư phải “hóa gia vi tự” (chuyển nhà thành chùa). Phải chăng, sau khi vụ án xảy ra thì nhà cửa của Thái sư bị tịch thu, sung công?

Về tên làng Bảo Tháp, theo tôi không phải dựa vào chùa Bảo Tháp trước là tháp, mà có thể là dựa vào tháp chùa Đông Lâm hoặc chùa Tĩnh Lự đều trên dãy núi Đông Cứu (Thiên Thai). Căn cứ theo văn bia chùa Thiên Thai thì tên làng Bảo Tháp có niên đại từ trước năm Cảnh Hưng thứ 15 (1754).

Tượng rồng đá (xà thần) tại đền Thái sư Lê Văn Thịnh đã được công nhận là Bảo vật quốc gia. Ảnh: Từ Khôi.
Tượng rồng đá (xà thần) tại đền Thái sư Lê Văn Thịnh đã được công nhận là Bảo vật quốc gia. Ảnh: Từ Khôi.

Trong bài báo, Kiều Mai Sơn dẫn lời GS Phan Huy Lê viết sai thành chùa Đồng Lâm. Về chùa Đông Lâm và Tĩnh Lự trên núi Đông Cứu, sách “Đại Việt sử lược viết”: “Năm 1055 vua Lý Thánh Tông cho xây chùa Đông Lâm và Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu”. Vậy là, chùa Tĩnh Lự được khởi dựng trước chùa Phật Tích (1057) 2 năm, chùa Dạm (1086) 31 năm.

Có hay không ngôi tháp của chùa Đông Lâm trên núi Thiên Thai? Tôi khẳng định là có. Căn cứ dựa vào một số bia hiện còn lưu tại chùa Thiên Thư. Bia “Cứu lĩnh sơn thượng đỉnh Thiên Thai tự bi ký”, nghĩa: Bài ký bia chùa Thiên Thai trên đỉnh núi Đông Cứu, có đoạn: “Bảo Tháp trên đỉnh núi Đông Cứu, xã Đông Cứu, huyện Gia Định, phủ Thuận An, vốn có dấu tích của ngôi tháp đời trước, có ngôi chùa cổ nguy nga, do lâu ngày mà đổ nát chỉ còn nền đấy”.

Thậm chí tấm bia Bảo Tháp sơn Thiên Thai tự sãi vãi bi ký (Bia ký về sự đóng góp của các sãi vãi chùa Thiên Thai, núi Bảo Tháp) còn viết: “Tháp chùa của núi Bảo Tháp do Cao Vương thời Đường tạo ra đấy. Bỗng chốc, trải qua gió mưa, rường cột bị đổ nát, đến nay đã hơn tám trăm năm rồi”.

Căn cứ vào nội dung một số văn bia thì chùa Bảo Tháp xưa được gọi bằng các tên: “Thái sư tự” (Chùa Thái sư), “Thiên Thư tự”, “Thiên Thai tự”. Một số văn bia khác cũng vào thời Cảnh Hưng còn gọi núi là Bảo Tháp.

Bàn về tượng xà thần tại đền Thái sư Lê Văn Thịnh, Kiều Mai Sơn đã dẫn lời của GS Phan Huy Lê: “Còn tượng đá tạm gọi tượng xà thần hiện đặt tại đền thờ Lê Văn Thịnh vốn ở chùa Đồng Lâm trên núi Thiên Thai sau bị quân Pháp phá xây lô cốt, ủi xuống chân núi và tìm thấy năm 1993. Tượng này không liên quan đến Lê Văn Thịnh và cần nghiên cứu gắn liền với chùa Đồng Lâm. Trong nguồn gốc văn hóa của đạo Phật ở đây”.

Tôi thấy ý kiến của GS Phan Huy Lê là không có cơ sở. Thứ nhất, không có một căn cứ nào để khẳng định tượng xà thần là của chùa Đông Lâm (Đông Lâm chứ không phải Đồng Lâm). Thứ hai, nếu tượng xà thần bị quân Pháp ủi xuống chân núi để xây dựng lô cốt thì tại sao những thế hệ người cao tuổi ở thôn Bảo Tháp lại không biết gì về gốc tích pho tượng?

Vì thời gian xây dựng lô cốt trên núi Thiên Thai cùng lắm là vào năm 1947? Và ủi kiểu gì tài đến mức qua bao gập ghềnh, cây cối để dừng lại trước cổng đền thờ Thái sư? Và các cụ thôn Đông Cứu phát hiện pho tượng rồng đá này gần gốc cây bàng trước cửa đền vào năm 1991 chứ không phải năm 1993.

Còn về năm sinh, năm mất của Thái sư Lê Văn Thịnh, cuốn sách “Thái sư Lê Văn Thịnh (1050 – 1096): cuộc đời và thời đại” ghi năm sinh, năm mất như vậy là không chuẩn xác. Bài báo của Kiều Mai Sơn phân tích và đưa ra ý kiến của GS Phan Huy Lê: “ông sinh ra, lớn lên và hoạt động khoảng nửa sau thế kỷ XI” là đúng.

Trong quá trình nghiên cứu về thân thế, cuộc đời, sự nghiệp của Thái sư Lê Văn Thịnh, tôi nhận thấy theo thần tích và lời kể của dân làng quanh vùng có đền thờ Thái sư Lê Văn Thịnh thì đều thống nhất ông sinh năm Dần. Nhưng có nơi kể ông sinh năm Mậu Dần (1038), có nơi kể ông sinh năm Canh Dần (1050). Còn mốc năm mất 1096 thì sai vì đó chỉ là mốc năm xảy ra vụ án. “Đại Việt sử ký toàn thư” viết sau khi vụ án xảy ra, ông bị đày lên Thao Giang.

Như vậy, Thái sư Lê Văn Thịnh và dòng họ không bị tru di tam tộc như vụ án Lệ Chi Viên (cách quê Thái sư khoảng 3km) kinh thiên động địa xảy ra đối với dòng họ đại công thần Nguyễn Trãi năm 1442. Từ mấy trăm năm trước, tại Đình Tổ ở huyện Thuận Thành, cách quê hương Đông Cứu của Thái sư Lê Văn Thịnh khoảng 20km đã có ngôi đình thờ ông làm Thành hoàng làng và bên hồ sen rìa làng có ngôi mộ đất. Người dân kể đó là mộ của Thái sư Lê Văn Thịnh. Ông mất trên đường mãn hạn tù về quê. Hiện tại ngôi mộ đã được xây dựng khang trang.

Từ Khôi

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).