Những quả chuối trâu quê ngoại

Hồi còn Pháp thuộc, căn lều nhỏ thầy mẹ tôi dựng tạm ở cạnh nhà anh Ca Woẻ, để tiện chăm sóc ông bà ngoại. Tôi sinh ra ở đây, vào một ngày cuối mùa đông năm 1947. Tôi cầm tinh con lợn, nhưng lại thò tay túm đầu chú chuột (1948). Từ căn lều mái rơm vách nứa đơn sơ này tôi đã cất tiếng khóc chào đời.

Đó là lời của đấng bề trên báo sớm cho biết, cuộc đời mày làm người sẽ phải khổ. Khổ từ đây con ơi. Đói khát sẽ làm con khổ. Rách rưới sẽ làm con khổ. Nóng lạnh sẽ làm con khổ. Mệt mỏi đau ốm sẽ làm con khổ. Buồn bã nhớ thương sẽ làm con khổ. Gen ghét đố kỵ sẽ làm con khổ. Vui mừng quá đỗi cũng sẽ làm con khổ. Nói tóm lại, thất tình lục dục sẽ làm con khổ. Nhưng con được sinh ra để làm người có ích cho cuộc đời, lại là niềm hạnh phúc rộng lớn bằng biển và trời cộng lại.

Nói xa nói gần, đây mới đúng là nơi chôn nhau cắt rốn cái thằng tôi mũi khoằm hôi nách. Nơi đó là quê ngoại của tôi, làng Phia Hoong thuộc xã Khâm Thành, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Không hiểu sao người ta lại phiên nó thành Phja Hồng nửa nạc nửa mỡ. Phja là thuần Tày, nghĩa là núi. Hồng là Hán Việt. Hồng có nhiều nghĩa: Là màu đỏ; là rộng lớn mênh mông… nhưng Phja Hồng gộp vào chả có nghĩa gì cả. Thôi thì gọi quen như thế rồi. Cứ thế mà hót cho nó âm vang.

Chuối trâu.
Chuối trâu.

Phja Hồng, quê ngoại tôi là một ngôi làng khá đặc biệt. Đời nào cũng có một vài chàng trai hào hoa phong nhã. Đời nào cũng có một vài cô gái xinh đẹp. Họ như từ trong tranh phục hưng bước ra. Mặc dù họ là con nhà nông dân thuần túy. Chân lấm tay bùn toàn tòng. Quanh năm suốt đời đi theo đít con trâu con bò cày cấy. Nhưng khi mãn việc đồng, trâu bò được nghỉ ngơi thả rông cho lên đồi ăn cỏ, người Phja Hồng lại thong thả cất lên tiếng hát dá hai để hồi sức, để trao gửi nỗi lòng. Để làm gì nữa, chỉ có trời mới biết. Tiếng hát vọng vào vách núi đá cao vút. Nhưng khi tiếng hát dá hai vọng dội lại, nó dính vào tai người nghe như cơm nếp rưới mật. Hát rằng:

“Anh ơi hỡi anh ơi
Em về nhà em
Anh ở lại nên nhớ rằng
Em để phần hồn em
Treo ở chuôi sàn
Hễ nghe lá rụng
Chớ giật mình
Nghe anh”.

Dá hai là một làn điệu hát dân ca của người Choang. Dân tộc Choang cùng ngữ hệ với người Tày Thái. (Cũng có người nói là hệ Tai - Kadai. Thôi thì tùy duyên mà gọi). Người Tày nói gì, người Choang liền hiểu ngay. Người Choang nói gì người Tày cũng hiểu ngay đấy. Xét về ngôn ngữ, tiếng Tày gần như là tiếng phổ thông ở vùng Cao Bằng, thậm chí cả vùng Việt Bắc nữa.

Phja Hồng, quê ngoại tôi, còn có nhóm gia đình họ Nông hành nghề ấp trứng vịt. Đây là công đoạn ấp vịt hoàn toàn bằng thủ công. Người ta có thể ấp một lúc vài trăm đến ngàn con vịt con cung cấp ra thị trường. Nhưng đây chỉ công việc phụ, việc vặt, nhằm kiếm thêm đồng ra đồng vào ngoài làm ruộng là chính.

Đàn ông Phja Hồng chăm chỉ có tiếng trong làng ngoài xã. Trên đôi vai họ không lúc nào được rỗi. Từ nhà đi ra khỏi cửa, lúc nào họ cũng gánh đôi sọt trống rỗng, gặp gì cũng bỏ vào đấy. Gặp phân trâu bò rơi, họ hốt lấy mang về bón ruộng. Gặp củi rác, nhặt về nhà thổi nấu. Gặp rau rừng thì hái về nấu canh cho người ăn, hoặc băm nhỏ trộn cám cho lợn gà.

Còn đàn bàn con gái, họ cực kỳ lãng mạn và yêu đời. Tôi chỉ nói đến thế thôi. Nói nữa sợ lạc đường. Thôi thì tùy mọi người suy đoán. Đoán già đoán non đều trúng cả. Con gái Phja Hồng vừa có nhan sắc xinh đẹp, lại vừa có giọng hát hay. Tiếng hát vang rền nền nẩy, làm say nghiêng ngả bao người đàn ông con trai. Điều này không có gì lạ. Đàn ông con trai không đem lòng mê mẩn họ, khao khát họ mới lạ.

Lại nói khu vườn anh Ca Woẻ hiện nay, chính là nền nhà cũ của nhà tôi. Giờ đây được gia đình anh trồng nhiều bụi chuối ta, tiếng Tày gọi là cuối vài, nghĩa đen là chuối trâu. Đây là giống chuối phổ biến nhất của vùng người Tày Cao Bằng sinh sống. Thân cây thẳng đứng, dáng cao to, chắc chắn như những cột nhà, một đứa trẻ lên mười ôm cây vừa khít. Lá chuối to bản và dày chắc như da dê thuộc. Mỗi tàu lá có thể che mưa được 5 đứa khỏi ướt áo. Mỗi buồng chuối chưa đến chục nải. Mỗi nải chưa đến chục quả. Quả chuối trâu to và dài bằng chiếc đèn pin con thỏ. Khi chuối chín, vỏ lên màu vàng sậm và nó có vẻ hơi buồn. Buồn vì trông nó không được đẹp. Nhưng lúc nào đói, chỉ cần ăn một quả là no đến ngực. Nói thật lòng, chuối trâu trông xấu xí chưa từng thấy. Nhưng thịt nó thơm, ngọt và lành cũng chưa từng nghe. 

Ký ức Trùng Khánh, tranh của Hoàng A Sáng.
Ký ức Trùng Khánh, tranh của Hoàng A Sáng.

Tôi biết ở dưới xuôi có giống chuối cau, quả nhỏ mập tròn hình quả cau. Khi chưa chín, nhiều người tưởng nhầm đây là chuối ngự.

Còn chuối ngự, khi chín vẫn còn có một sợi râu. Đây là loài chuối đặc biệt thơm và ngọt, xưa kia người dân dùng để tiến vua, ta quen gọi là chuối tiến vua.

Chuối tiêu mới là loại chuối được nhiều người ưa chuộng hơn cả. Nhìn quả chuối thon gọn và đẹp. Nó uốn hình trăng lưỡi liềm, cong cong mềm mại như người con gái tắm suối đêm trăng. Khi chuối bắt đầu chín, nó dậy mùi thơm phức khắp xóm. Còn lúc ăn, chuối ngọt thanh hơn cả kẹo socola.

Thấy các giống chuối dưới xuôi đặc biệt thơm và ngọt, nhiều người đã mang về quê trồng thử. Nhưng chúng làm sao chịu nổi sương muối, mưa tuyết xứ ôn đới. Thời tiết mùa đông trên quê tôi khắc nghiệt còn hơn mụ dì ghẻ. Cái lạnh buốt đến tận đỉnh đầu như nuốt phải cồn sát trùng. Nhất là vùng đất Co Xàu, Trùng Khánh cứ gọi là đặc sản sương muối. Các giống chuối tiêu “tiểu thư mảnh mày hay hạt” của người Kinh dù được trồng đúng kỹ thuật, được trông coi chăm sóc kỹ càng đặc biệt, nhưng chúng đều lần lượt còi cọc rồi chết đứng cả một loạt. 

Chỉ có chuối trâu xâu xấu như trâu mà sống khỏe. Thậm chí chúng còn khỏe hơn người thổ dân bản xứ. Có nhiều năm sương muối gieo rắc khắp cánh đồng bản làng, khắp các núi đồi bãi cỏ … trắng toát như khăn tang. Có những năm suốt cả mùa đông lê thê gió mưa ẩm mốc không có ngày nào hửng nắng. Trời rét căm căm làm mẩn mề đay, gây ngứa trên làn da, cào rách cả thịt chảy cả máu. Thế mà chuối trâu không hề hấn gì. Nó tung bay tàu lá tươi cười như những phướn xanh.

Ngày trước, thời chúng tôi còn nằm trong nôi, mẹ đi chợ chỉ dám mua được đôi quả chuối về làm quà cho con. Đôi quả chuối tòong teeng nhóoc nhéec vui suốt dọc đường từ chợ tới nhà. Trên đường về, cứ nhìn thấy chuối là hiện lên một gia đình nhỏ, có những đứa con bé tý mặt mũi lấm lem, chúng đang há miệng chờ mong mẹ về chợ.

Có thể nói chuối trâu trở thành một biểu tượng của hạnh phúc. Nó giản dị như người nông dân miền núi chúng tôi. Một thời nghèo khó đến một quả chuối cũng không dám cho con ăn hết. Đến bữa, chỉ dám xắt một khoanh chuối mỏng như tờ bìa carton. Người mẹ nhai thật kỹ lẫn với cơm như cháo, rồi mới bón cho con ăn. Lớn chút nữa thì lát chuối dày thêm một tý. Cứ thế chuối trâu nhẩn nha chầm chậm lớn theo người. Già nửa thế kỷ, tôi vẫn còn nhớ lời cụ giáo già Bế Cảnh người làng Thang Lý nói ngày nào: “Chúng mày nhờ có chuối trâu mà trở thành ông nọ bà kia. Nào là bác sĩ, kỹ sư, giáo viên, tiến sĩ, giáo sư, tướng tá…đều từ chuối trâu mà thành”.

Nói thế cũng không ngoa tý nào. Ai đời với một đứa trẻ sơ sinh mới vài ngày tuổi, đã được mẹ mớm chuối thay cho sữa. Quả chuối xấu xí thô mộc chả giống ai, nhưng nó biến thành máu nuôi cái thể xác con người.

Viết tới đây, tôi không nín được lòng mình. Tôi có người cô ruột là bà Hứa Thị Loan. Cô tôi mất, khi tuổi đời hãy còn rất trẻ. Ngày ấy ba em tôi là Nông Đức Hồng, Nông Đức Lê, Nông Đức Vụ còn quá nhỏ. Thằng út mới được vài tháng tuổi. Em tôi bò lên xác mẹ. Rồi nó lấy tay lần tìm bầu vú. Miệng nó ngậm vào đầu vú. Em tôi mút mãi mà không còn giọt sữa nào. Nó khóc ré lên, làm cả nhà không ai cầm được nước mắt. Rồi từ đấy, phiên chợ nào mẹ tôi cũng gửi chuối trâu về cho các em. Hình ảnh ba đứa em tôi ra đứng đầu bản chờ mẹ về chợ. Chờ đến tối mịt, nhìn không rõ đường nữa mà vẫn không thấy mẹ. Chỉ có nải chuối trâu trên đôi tay. Nó nặng trĩu như nước mắt khóc cô. Chuối ơi là chuối.

Chuối trâu đã trở thành một kỷ niệm đau xót nhất trong đời tôi.

Y Phương

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).