Những nhân chứng lịch sử trong ngày 'Hà Nội vùng đứng lên'

“Đem sức ta tự giải phóng cho ta”, nắm bắt tinh thần chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, Cách mạng Tháng Tám đã diễn ra nhanh chóng và thắng lợi trọn vẹn; chỉ trong vòng 10 ngày, chính quyền cả nước về tay nhân dân. Đó là sự bất ngờ hợp quy luật, là kết quả của bao lớp người Việt Nam sau gần 80 năm tranh đấu chống thực dân, phong kiến và sau 15 năm Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời…

Lâu nay, những bài học lịch sử về Cách mạng Tháng Tám đã in sâu trong kí ức của tôi, từ bối cảnh, diễn biến và ý nghĩa; song tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ có ngày được gặp gỡ những người trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám tại Hà Nội.

Duyên may nghề báo đã đưa tôi tới gặp Đại tá Lê Trọng Nghĩa, một thành viên của Ủy ban Quân sự Cách mạng Hà Nội, tại nhà riêng của ông trên phố Đội Cấn (Hà Nội).

Đã bước vào tuổi 94, sức khỏe giảm sút nhiều do ảnh hưởng của bệnh phổi, nhưng ông vẫn giữ được sự minh mẫn.

Ông luôn tâm đắc và hào hứng khi nói về sự sáng tạo của Cách mạng Tháng Tám tại Hà Nội, mà ông được tham gia với tư cách là một trong những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa. 

Trước thời điểm 19/8/1945 lịch sử, tại Phủ Khâm sai, trung tâm quyền lực của chế độ bù nhìn thân Nhật, đã diễn ra một số cuộc gặp gỡ giữa các vị sứ giả Việt Minh với Khâm sai Phan Kế Toại.

Đại tá Lê Trọng Nghĩa kể lại: “Ngày 16/8, đoàn đại diện Việt Minh do ông Nguyễn Khang dẫn đầu (Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc kỳ, trong Cách mạng Tháng Tám là Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội), tôi và ông Trần Đình Long (tham gia với vai trò “cố vấn”) vào gặp ông Phan Kế Toại, theo lịch hẹn từ trước. Vị Khâm sai đại thần cùng các cộng sự đón mời từ tiền sảnh và bày tỏ thái độ tôn trọng, cầu thị.

Ông Phan Kế Toại đặt vấn đề: “Chúng tôi muốn mời Việt Minh tham chính”. Không đồng ý với đề xuất này, đại diện Việt Minh đã thẳng thừng bác bỏ và nói: “Tốt hơn hết là các ông từ chức đi!”. Ông Nguyễn Khang đề nghị Khâm sai nên đứng về phía Việt Minh, nhanh chóng giao vũ khí và chính quyền cho cách mạng. Không đạt được đồng thuận, đoàn Việt Minh ra về.

Sau đó không lâu, một cuộc gặp gỡ nữa diễn ra tại Phủ Khâm sai với sự sắp đặt của ông Phan Kế Toại, nhưng lần này là giữa “Giáo sư Lê Ngọc” – bí danh hợp pháp của Lê Trọng Nghĩa, với Thủ tướng Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim.

Đại tá Lê Trọng Nghĩa hồi tưởng: Cuộc gặp gỡ diễn ra trong phòng khách lớn Dinh Khâm sai Bắc Bộ với sự có mặt của ông Toại...

Tôi tranh thủ trình bày trước để giới thiệu chương trình Việt Minh, nêu lên ưu thế của Việt Minh là đã cùng đứng về phía Đồng minh chống lại phát xít Nhật từ nhiều năm và đã lập được khu giải phóng; Mặt trận của Việt Minh có đông đảo dân chúng đi theo, chỉ có Việt Minh mới đủ điều kiện  đảm bảo chắc chắn giành được độc lập hoàn toàn cho đất nước.

Ông Trần Trọng Kim chú ý nghe nhưng không có phản ứng gì rõ ràng. Đến lượt mình nói, ông phác ra chủ trương của chính phủ, tỏ rõ quan điểm thân Nhật, dựa vào Nhật...

Tôi cảm thấy hơi nóng mặt, nhưng ông Phan Kế Toại đã tiếp lời ngay, công khai bày tỏ tin tưởng chính phủ sẽ xem xét đến các vấn đề mới được đề cập, theo ông “Những người Việt Minh ở ngoài Bắc này khá mạnh... và dân chúng đi theo họ”.

Đại tá Lê Trọng Nghĩa.
Đại tá Lê Trọng Nghĩa.

Đại tá Lê Trọng Nghĩa nhớ lại hình ảnh tiến chiếm Phủ Khâm sai vào đầu giờ chiều 19/8/1945. “Từ Nhà hát Lớn Hà Nội, chúng tôi dẫn đầu đoàn quần chúng ào ạt tiến về Phủ Khâm sai...

Tôi, anh Trần Tử Bình (Thường trực Xứ ủy phụ trách 10 tỉnh Bắc Bộ), anh Nguyễn Khang và nhiều quần chúng vượt qua cổng sắt, tràn lên đại sảnh và tiến vào Văn phòng Phủ Khâm sai.

Nhân danh Ủy ban Quân sự cách mạng, anh Trần Tử Bình tiến thẳng đến nơi làm việc của Nguyễn Xuân Chữ, người cầm đầu “Ủy ban chính trị” bù nhìn, ra lệnh phải đầu hàng. Hai tự vệ Thành Hoàng Diệu lập tức trói Nguyễn Xuân Chữ lại, giải đi (sau này, ông Nguyễn Xuân Chữ được đích thân Hồ Chủ tịch kí lệnh phóng thích – PV).

Thấy trong phòng có hệ thống máy thông tin, anh Trần Tử Bình điện gọi các tỉnh trưởng và thị trưởng Hà Nam, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh… thông báo Việt Minh đã giành chính quyền ở Hà Nội; yêu cầu họ phải mau chóng giao chính quyền cho Việt Minh, nếu không sẽ bị cách mạng xử lí…

Cùng lúc, một số tỉnh trưởng, tri phủ, tri huyện hoảng hốt gọi điện về Phủ Khâm sai để xin ý kiến, đều nhận được mệnh lệnh dứt khoát của anh Trần Tử Bình: “Lập tức trao quyền ngay cho Việt Minh!”. 

Sự sáng tạo của Hà Nội được ông Lê Trọng Nghĩa thuật lại: Trong bối cảnh ở xa Trung ương, hầu hết các đồng chí Trung ương đều rời Hà Nội lên Tân Trào dự Hội nghị của Đảng và Quốc dân Đại hội.

Trên cơ sở nắm vững đường lối cách mạng, đặc biệt là Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”; ngay khi nhận được tin Nhật đầu hàng Đồng Minh, trong hai ngày 14 và 15/8, Xứ ủy Bắc kỳ họp và quyết định phát động khởi nghĩa.

Ủy ban Quân sự cách mạng Hà Nội được thành lập, gồm 5 đồng chí: Nguyễn Khang, Ủy viên Thường vụ Xứ ủy; Nguyễn Huy Khôi (tức Trần Quang Huy), phụ trách Ban Công vận Xứ ủy; Nguyễn Quyết, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Lê Trọng Nghĩa, cán bộ của Xứ ủy và Nguyễn Duy Thân, Thành ủy viên Hà Nội...

Tối 17/8, Ủy ban Quân sự Cách mạng Hà Nội họp tại một cơ sở ở ngoại thành Hà Nội (nhà bà Hai Nhã, thôn Dịch Vọng Tiền).

Hội nghị phân tích tình hình và khẳng định thời cơ cách mạng đã chín muồi; quyết định khởi nghĩa với phương thức: dùng lực lượng chính trị áp đảo của quần chúng cách mạng để tiến hành khởi nghĩa, kết hợp chĩa mũi nhọn chính vào chính quyền bù nhìn với việc vận dụng sách lược mềm dẻo, không để quân Nhật có cớ can thiệp.

Sự sáng tạo thể hiện rõ trong hội nghị này: dùng sức mạnh chính trị quần chúng để tiến chiếm các cơ quan quyền lực, nhưng không chiếm những nơi quân Nhật đồn trú, không đặt ra yêu cầu tước vũ khí quân Nhật (điều này giải thích vì sao ta không chiếm Phủ Toàn quyền, Bộ Tổng tham mưu, Đồn Thủy... là nơi  quân Nhật đang chiếm đóng).

Trong một lần đến thăm Đại tướng Nguyễn Quyết (năm nay 93 tuổi), chúng tôi đã được ông tâm sự và hiểu rõ hơn sự sáng tạo của Hà Nội trong Cách mạng Tháng Tám.

Đại tướng Nguyễn Quyết (bìa phải).
Đại tướng Nguyễn Quyết (bìa phải).

Như đã đề cập ở phần trên, đồng thời với chiếm Phủ Khâm sai, lực lượng cách mạng đã bao vây và chiếm những trung tâm quyền lực: Trại Bảo an binh, Ty Liêm phóng, Sở Cảnh sát Hàng Trống, Kho bạc, Bưu điện...

Chỉ trong ngày 19/8, về cơ bản, các vị trí trọng yếu của chính quyền bù nhìn đã rơi vào tay cách mạng.

Ngay tối 19/8, Thường vụ Xứ ủy Bắc kỳ họp, quyết định thành lập Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời Bắc Bộ do đồng chí Nguyễn Khang làm Chủ tịch; Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Hà Nội cũng được thành lập, do đồng chí Nguyễn Huy Khôi làm Chủ tịch.

Nhìn lại diễn biến của Cách mạng Tháng Tám tại Hà Nội, nếu thiếu sự sáng tạo và linh hoạt, thì có thể thắng lợi đã không được trọn vẹn, thậm chí có nhiều đổ máu.

Mũi chiếm Trại Bảo an binh, do ông Nguyễn Quyết phụ trách. Sau khi ta chiếm được trại, quân Nhật đưa xe tăng tới bao vây, đòi tước vũ khí của ta và yêu cầu trả lại Trại Bảo an binh.

Giữ vai trò là người lãnh đạo khởi nghĩa, ông Nguyễn Quyết nhận định: Nếu để xảy ra xung đột với quân Nhật, hậu quả sẽ khó lường, có thể không giữ được thành quả cách mạng, quân Nhật sẽ thẳng tay đàn áp…

Với thái độ mềm dẻo nhưng cương quyết, ông Nguyễn Quyết nói với đại diện chỉ huy quân Nhật: Nhật Hoàng đã tuyên bố đầu hàng. Các ông chỉ còn đợi nay mai quân Đồng minh vào tước vũ khí rồi về nước… Tốt nhất là các ông trở về vị trí cũ, không nên can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam chúng tôi.

Cùng lúc, ông Lê Trọng Nghĩa cũng có mặt ngoài cổng trại, tiếp tục thuyết phục quân Nhật. Dưới sức mạnh của khối quần chúng, cùng với lí lẽ sắc sảo của các vị chỉ huy Việt Minh, quân Nhật phải rút về doanh trại vào lúc 5h chiều 19/8/1945…

Sự sáng tạo, quyết đoán và nắm bắt thời cơ, nắm vững đường lối và phương pháp đấu tranh Cách mạng của Đảng, đã góp phần làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám.

Khang Anh

Các tin khác

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.