(Đọc “Mùa chinh chiến ấy”, hồi ký của Đoàn Tuấn, NXB Trẻ, 2020)

Những người lính tình nguyện của “Mùa chinh chiến ấy”

“Mùa chinh chiến ấy” là tên cuốn hồi ký của tác giả Đoàn Tuấn, nguyên chiến sỹ Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 29, Sư đoàn 307. “Một ngày mùa chinh chiến ấy/ Chim đã xa bầy mịt mờ bên trời bay…". Những câu hát trong bài “Hướng về Hà Nội” của nhạc sỹ Hoàng Dương thi thoảng lại thầm thì bên tai người lính trẻ Đoàn Tuấn trên bước đường hành quân.

Là người Hà Nội, vì yêu bài hát ấy mà sau này Đoàn Tuấn đã mượn một câu ca từ đặt tên cho cuốn sách của mình. Tôi chỉ mới gặp tác giả có một lần trong khoảng thời gian không dài, chưa hỏi được nhiều chuyện, nhưng bằng tác phẩm của anh, tôi biết rằng khi bắt đầu mặc bộ quân phục bộ đội, anh chưa hình dung được cái cuộc chiến mà mình sắp tham gia nó như thế nào. Đến khi thực sự cầm súng xung trận, anh mới nhận ra nó khủng khiếp hơn anh tưởng tượng rất nhiều. 

Cuộc chiến với một đội quân tàn bạo nhất trong lịch sử: bọn diệt chủng Pônpốt - Iêngxari. Một cuộc chiến tranh tự vệ, vừa bảo vệ tổ quốc mình, vừa tấn công xóa bỏ địa ngục trần gian do chúng dựng lên ngay trên đất nước của chúng nhằm tiêu diệt chính đồng bào của mình. Những người lính tình nguyện Việt Nam phải chiến đấu trong điều kiện không có một điểm tựa hậu phương, nếu ngã xuống không được chôn cất trong lòng đất quê hương xứ sở. 

Tác giả Đoàn Tuấn.
Tác giả Đoàn Tuấn.

Khi họ hy sinh phải mai táng ẩn giấu, những đồng đội còn sống thay phiên nhau trông coi “nghĩa trang” vì lo ngại bọn Pônpốt phát hiện sẽ moi xác họ lên tiêu hủy. Họ phải chịu đựng gian khổ, hy sinh rất lớn mà không phải ai cũng hiểu được. Đã sang đến xứ sở xa lạ này, họ chỉ có một lựa chọn duy nhất là hoàn thành nhiệm vụ. Người chiến sĩ Đoàn Tuấn nảy ra ý định viết văn từ đó. 

Anh tự răn mình: phải viết trung thực để cho đồng bào mình và cộng đồng nhân loại nhận chân bản chất cuộc chiến. Viết để cho các thế hệ mai sau phải luôn nhắc nhau nhớ câu nói bất hủ của Fuxich trong tác phẩm “Viết dưới giá treo cổ”: “Hỡi loài người, hãy cảnh giác!”.

Chất liệu cho văn chương ở chiến trường này rất nhiều, chẳng cần hư cấu cũng đã thành điển hình. Nhưng nhiệm vụ nặng nề, điều kiện sống khắc nghiệt, người chiến sĩ Đoàn Tuấn không có điểm dừng để tư duy về tác phẩm. Thậm chí không có nổi một chỗ ngồi yên ổn mà viết. Anh chỉ ghi nhanh dưới dạng “Nhật ký” những gì mà anh thấy cần phải ghi lại, để rồi hơn 30 năm sau, khi đã trở thành một nhà biên kịch điện ảnh, anh mới mang tập nhật ký ra viết thành hồi ký.

Đã có một độ lùi cần thiết về thời gian cùng với sự trải đời và một kiến văn khá vững nên anh biết chọn những gì có giá trị văn học cần viết. Cũng như nhiều cuốn hồi ký khác, “Mùa chinh chiến ấy”, Đoàn Tuấn cũng viết theo tuần tự thời gian: Từ cái đêm đầu tiên ở chiến trường (giữa tháng 11-1978) cùng đồng đội chiến đấu, vào sinh ra tử suốt 5 năm cho đến khi được xuất ngũ được trở về Tổ quốc (tháng 5 năm 1983). 

Khá nhiều sự kiện, địa danh, trận đánh được ghi lại. Nhiều gương mặt bạn bè, đồng đội xuất hiện trong từng câu chuyện một cách tự nhiên, như Phú “râu”, người Trung đoàn trưởng có dáng cao to, bộ râu không có điều kiện để cạo lại hóa “đẹp”; Trung đội trưởng Lê Quỳnh Lan đẹp trai, quê Bình Định, chiến đấu rất dũng cảm, hy sinh như một người anh hùng; Chính trị viên Tiểu đoàn Nguyễn Văn Khang hiền hậu như một người mẹ; chiến sĩ Nguyễn Đức Thừa, quê Quảng Nam, ít nói, rất giỏi khâm liệm thi hài liệt sĩ; rồi Thạo “điên”, Minh “sứt”, Thuận “áo trận”, Vinh “Nam Đồng”, Toàn “cây si”, Thắng “gái”... 

Mỗi người một tính cách, một đời sống riêng tư, vẻ ngoài và suy nghĩ khác nhau; lúc bình thường thì tếu táo, hay pha trò, bốc phét để làm vơi bớt cơn đói, cơn khát lúc nào cũng hành hạ; khi vào trận thì ai cũng quả cảm, kiên cường, sẵn sàng chọn sự nguy hiểm về mình để đồng đội được an toàn.

Cảnh những người lính khiêng cáng thương binh - liệt sĩ trong đêm mưa rừng tối om, vừa đi vừa dò mìn; cảnh bắt sống những tù binh nữ Pônpốt; cảnh bọn lính Pônpốt quậy phá không cho bộ đội ta ăn Tết… bạn đọc sẽ không thể quên được. Càng không thể quên cảnh Trung đội trưởng Hà Huy Lan hy sinh nhưng vì đơn vị bận truy kích địch, phải đặt anh nằm tạm trong lán, ba ngày sau đơn vị quay về, xác anh trương lên, bốc mùi khiến những người lính mới sợ hãi thì Nguyễn Đức Thừa xung phong khâm liệm rất mau lẹ, chu đáo; cảnh người lính lớn tuổi Trần Thanh Miện có đời sống riêng tư đau khổ, bị dính mìn hy sinh, trong ba lô có một bó thư tình thấm máu chưa kịp gửi…

Đoàn Tuấn mô tả sự kiện nào cũng hay, nhân vật nào cũng ấn tượng, ám ảnh. Những người chưa hiểu lắm về cuộc chiến ở Campuchia mà đọc “Mùa chinh chiến ấy” hẳn sẽ rất kinh ngạc bởi không hiểu vì sao ở đất nước lắm chùa chiền, chỗ nào cũng thấy thờ Đức Phật mà lại nảy nòi ra một chế độ man rợ, coi việc bắt bớ, tra tấn, chém giết đồng bào mình (nhất là những người thuộc nhóm trí thức tinh hoa) như là một lẽ sống!? 

Họ cũng tự hỏi: chẳng hiểu từ đâu ra mà chúng có nhiều loại vũ khí giết người “sành điệu” đến thế? Trong Tiểu đoàn 8, hầu như ngày nào cũng có người bị thương và hy sinh. Sự sống và cái chết chỉ cách nhau một gang tấc, một khoảnh khắc. Bọn Pônpốt có hàng trăm loại mìn. Mỗi loại mang một công năng giết người khác nhau. Có loại chỉ nhỏ và dẹt như một quả bàng nhưng khi người lính giẫm phải là nó “xin một chân”. Có loại khi quệt chân vào sợi dây nhỏ như sợi cước lẫn trong cỏ, lập tức quả mìn nhảy lên ngang bụng mới phát nổ, xé toang ổ bụng của nạn nhân. Mìn rải dày đặc trên các lối đi trong rừng, trên các ngả đường qua phum, sóc, gây biết bao cái chết đau thương cho những người lính tình nguyện Việt Nam. 

Đoàn Tuấn từng là lính thông tin Trung đoàn nhưng anh thường phải đeo máy vô tuyến “cắm” xuống Tiểu đoàn, Đại đội, trực tiếp tham gia trận mạc; khi được điều động lên phụ trách chính sách của Trung đoàn thì anh lại thường xuyên phải đến tận nơi nhận mặt những liệt sĩ hy sinh, làm thủ tục báo tử, khâm liệm, chôn cất. 

Trong tác phẩm anh ghi lại gần 30 trường hợp đồng đội hy sinh. Mỗi người chết một kiểu. Có người chết tức tưởi. Có người chết từ từ. Chết vì các loại đạn pháo, đạn cối và rất nhiều các loại đạn khác. Nhưng nhiều nhất là chết vì mìn. Một số loại mìn có pha chất độc với thuốc nổ bên trong nên người lính nào đã dính những loại mìn này hầu như không cứu được. 

Không ít lần Đoàn Tuấn ngồi chứng kiến cái chết từ từ của đồng đội mà bó tay không cứu được. Chết vì đói, vì khát, vì ăn phải nấm độc, vì sét đánh, vì muỗi, vắt, vì ruồi xanh, ruồi vàng. Campuchia khi ấy là chiến địa của chết chóc nên ruồi rất nhiều, nhiều đến nỗi lính ta ngồi ăn cơm ruồi bu đen bát đĩa, ruồi chui cả vào họng, vào mũi. Đơn vị phải mở “chiến dịch” diệt ruồi; chúng chết nhiều đến mức phải đào hố chôn. 

Và cái đói, cái khát trong mùa khô nơi biên giới Campuchia - Thái Lan mới khủng khiếp làm sao. Những người lính tình nguyện đói đến nỗi phải bắn cả chim kền kền mà ăn. Loài chim này chuyên ăn xác thối, chúng ăn cả những xác liệt sĩ hy sinh ở trong rừng mà đồng đội chưa tìm thấy. Thịt kền kền hôi tanh, lúc bình thường chỉ ngửi mùi từ xa đã lợm giọng, muốn nôn mửa, thế mà vì đói quá họ cũng phải nhắm mắt mà nuốt. Đói đi liền với khát. Khát đến nỗi tê cứng người, đau nhức chân tay, không lê bước đi được. Khát đến độ để sống sót người này phải vạch quần tè ra cho người kia uống. 

Tuy mô tả về sự hy sinh của đồng đội khá nhiều. Song âm hưởng chủ đạo của gần 500 trang sách vẫn là tinh thần lạc quan, sẵn sàng hiến dâng tuổi trẻ của mình cho nghĩa vụ cao cả. Điều gì được kể cũng chân thực, hấp dẫn, ám ảnh khó quên. Vì mọi sự kiện, các nhân vật đều là thực nên tác giả cho in ngoài bìa là “Hồi ký” nhưng âm hưởng chủ đạo của tác phẩm là nhất quán, chứa đầy kịch tính, từng chương tồn tại độc lập nhưng lại có sự đan cài, gắn kết với nhau, nhân vật nào cũng lồ lộ cá tính nên cuốn sách xứng đáng được gọi là “Tiểu thuyết”, một tiểu thuyết đáng đọc về chiến tranh. Có điều không may cho “Mùa chinh chiến ấy” xuất bản vào cái thời mà số lượng bạn đọc văn chương không còn đông đảo nên sự lan tỏa của tác phẩm không được rộng rãi.

Lê Hoài Nam

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).