Những lớp mã huyền thoại…

Một anh hùng hay một danh nhân văn hoá trong lịch sử thường được bao bọc bởi các huyền thoại, mà nếu bóc những lớp vỏ ấy thì sẽ đi đến cái lõi sự thật. Truyền thuyết "An Dương Vương", đó chỉ là tên gọi một lớp mã nói về vị vua có công và bài học giữ nước. Còn là tên "Mỵ Châu - Trọng Thuỷ" kể về mối tình oan nghiệt của một hoàng tử và công chúa.

Cuốn "Lĩnh Nam chích quái" (Nhặt nhạnh (chích) những chuyện lạ (quái) ở Lĩnh Nam) - tập truyện viết theo lối huyền ảo nổi tiếng, thì đặt tên truyện là "Rùa vàng" thiên về kể cái kỳ lạ...

Nước Âu Lạc của An Dương Vương, theo dã sử là sự hợp nhất của hai nước Văn Lang và Nam Cương. Trong chính sử thì có nước Văn Lang, còn Nam Cương thì không. Theo nhiều cứ liệu thì An Dương Vương để mất Âu Lạc vào năm 208 trước công nguyên (TCN) để từ đó đến năm 938 nước ta giành lại độc lập là hơn một ngàn năm Bắc thuộc.

Trước đó, năm 257 TCN Thục Phán An Dương Vương, một thủ lĩnh bộ tộc Âu Việt vùng Đông Bắc dời đô nước Văn Lang ở Phong Châu thuộc vùng trung du về Cổ Loa là vùng đồng bằng, dựng nên nhà nước Âu Lạc. Về thời điểm An Dương Vương dựng nước và để mất nước Âu Lạc là chưa thống nhất nhưng các sự kiện lịch sử chính chung quanh An Dương Vương là có thật.

Triều đại An Dương Vương là khoảng giao thời giữa những trang vàng dựng nước và những trang sử đen tối của bi kịch mất nước. Phải chăng vì nằm trong thời điểm nhạy cảm này mà truyền thuyết về An Dương Vương phủ lên nó dày đặc những sương mù huyền tích.

Câu chuyện rõ ràng có ý chê trách An Dương Vương mất cảnh giác mà mắc mưu Triệu Đà cho Trọng Thuỷ ở rể. Tên gián điệp ấy đã lừa Mỵ Châu tráo lẫy nỏ giả lấy lẫy nỏ thật để rồi bi kịch (đúng là bi kịch nước mất nhà tan: nước mất vào tay Triệu Đà, gia đình An Dương Vương tan vỡ) xảy ra. Đây là bài học giữ nước phải cảnh giác cao độ với kẻ xâm lược, nhất là kẻ ấy lại là láng giềng sát ngay cạnh. Nhưng liệu điều chê trách An Dương Vương có thỏa đáng?

Tranh minh họa truyền thuyết An Dương Vương.
Tranh minh họa truyền thuyết An Dương Vương.

Một vị thủ lĩnh của một bộ tộc nổi tiếng, một nhà quân sự từng trải vừa chiến thắng vẻ vang trong cuộc chiến thôn tính Văn Lang của các vua Hùng hùng mạnh, chả lẽ lại mắc sai lầm sơ đẳng như thế? Phải chăng cái sự chê trách An Dương Vương còn nằm ở chỗ dân gian không ủng hộ ông vì họ còn luyến tiếc thời vàng son triều đại các Vua Hùng đã có nhiều công lao trong việc dựng và giữ Văn Lang mà ông là người vừa gạt bỏ!?

Cũng rất có thể chi tiết thành cứ xây xong lại đổ là có ý muốn nói ông chưa được lòng dân, vì dân không ủng hộ nên việc xây thành (giữ nước) luôn gặp khó. Đến khi có sự giúp đỡ của thần Kim Quy thành mới xây xong. Phải chăng "thần" ở đây cũng là dân: khi có dân giúp thì việc gì khó (như việc xây thành, như sự phá hoại của yêu tinh ma quỷ) cũng thành công!?

Trong hệ thống thần thoại Việt có mô tip chàng rể đáng chú ý. Bốn vị thánh (Tứ bất tử) của văn hoá Việt là Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ, Đức Thánh Gióng, Thánh Mẫu Liễu Hạnh thì ba vị đầu là nhân vật thời Vua Hùng dựng nước, chỉ có Thánh Mẫu Liễu Hạnh có gốc tích ở thế kỷ XVI. Dù không được Vua Hùng thừa nhận nhưng về bản chất, Chử Đồng Tử vẫn là con rể Vua Hùng, còn Sơn Tinh là con rể chính thức. Như vậy là trong ba thánh "bất tử" thì có tới hai là con rể. Chi tiết này nằm trong một loạt các sự tích Vua Hùng cho thấy các chàng rể đóng vai trò lớn trong việc dựng nước và giữ nước, trong việc sáng tạo nên các kỳ tích văn hoá. Cũng là con rể nhưng Trọng Thuỷ lại phản trắc? Đây là câu hỏi rất cần được giải mã sâu hơn.

Có một lý do khi An Dương Vương gả con gái cho con Triệu Đà là nằm trong tập quán ngoại giao thời cổ đại là mong muốn hoà hiếu giữa các quốc gia, lãnh thổ, cộng đồng mà các lãnh chúa, các lãnh tụ bộ tộc, bộ lạc… thường gả con cho nhau. Họ làm "thông gia", thân tín, gần gũi, chia sẻ… Tập quán này kéo dài mãi về sau, ở thời trung đại ta vẫn thấy Vua Trần gả con gái cho vua các nước lân bang…

Chuyện hôn nhân của các vương quyền ngày trước thường mang màu sắc chính trị khá rõ. Hoàng đế Quang Trung lấy công chúa Ngọc Hân con gái Vua Lê khó tránh khỏi mục đích vì sự hoà bình, êm ấm của quốc gia. May mắn là giữa họ đã nảy sinh một mối tình thật sự giữa vị anh hùng và bậc quốc sắc tài năng mà minh chứng là có một "Ai tư vãn" nổi tiếng đi vào lịch sử văn học như là áng văn về một thiên tình sử đẹp và cũng đậm bi kịch...

Như vậy, với truyền thuyết "An Dương Vương", đành rằng đó là bài học cảnh giác với kẻ thù nhưng có nên trách cứ An Dương Vương là "nhẹ dạ" mà "mất cảnh giác" để rồi mất nước? Liệu có nặng nề quá chăng? Liệu có đúng với bản chất vấn đề lịch sử? Ông gả con gái cho con Triệu Đà đích thực là một hoạt động văn hoá vì hoà bình, yêu hoà bình?!

Lẫy nỏ mà An Dương Vương được thần Kim Quy giúp là một thứ vũ khí lợi hại "bắn một phát chết hàng vạn người". Sự thật đó có thể là những mũi tên đồng mà thời nay khảo cổ học đã tìm thấy trong lòng đất vùng Cổ Loa. Nhưng với một truyền thuyết thì sự thật không quan trọng bằng cái ý nghĩa huyền thoại, mà ở đây là biểu hiện một ước mơ, một khát khao được làm chủ một thứ vũ khí như thế để bảo vệ đất nước. Còn là bài học phải có người làm chủ vũ khí đó.

Truyền thuyết cho ta một ý nghĩa thật sự mới mẻ, hiện đại: trong mọi cuộc chiến tranh thì vũ khí là quan trọng nhưng con người mới là quyết định, nhất là với những người có vị trí tối cao. Có vũ khí tối tân nhưng con người không làm chủ được nó thì cũng vô giá trị, thậm chí phản tác dụng. Đó là trường hợp An Dương Vương không biết bảo quản, bảo vệ vũ khí để lọt vào tay kẻ thù. Mà kẻ thù đâu có xa lạ, lại chính là người "trong nhà"…

Trọng Thuỷ mang trong nó gần như đầy đủ những "tiêu chuẩn" của một điệp báo viên hiện đại "chui sâu leo cao". Một "lý lịch" rõ ràng: con một vị vua nổi tiếng cai quản một đất nước hùng mạnh. Đó là bất ngờ đầu tiên, đường đường là một hoàng tử hào hoa, phong nhã, lịch thiệp, giàu có, sang trọng, là nhà ngoại giao, là một "đại sứ hoà bình"… mà bản chất lại là kẻ cắp! Một sự "nhập cảnh" hoàn hảo: sang cầu hôn. Một "bình phong" hoàn hảo: ở rể.

Một tính cách lọc lõi, thông minh: nắm bắt bí mật "lẫy nỏ". Một bậc thầy tâm lý: biết che đậy, biết dựng kịch, biết tìm thời điểm: dụ dỗ, lừa gạt Mỵ Châu… Nhưng vì sao nó lại nhảy xuống giếng tự tử? Còn nếu sống, ít ra nó sẽ được vua cha Triệu Đà cho làm vua đất nước vừa cướp được.

Có thể hiểu theo mấy lẽ sau: Đó là cái chết của sự hối hận. Nó là kẻ có học. Nó đã từng là "con rể" An Dương Vương, đã từng sống với phong tục, tập quán, với tình người, tình đời nơi đây. Nó thấu hiểu bản chất phi nghĩa của cuộc chiến cướp nước của cha nó… Đó là cái chết vì tình yêu.

Cái chết của Trọng Thuỷ chứng minh nó yêu Mỵ Châu thật sự. Đấy cũng là một định nghĩa cho tình yêu là sống không thiếu nhau. Mỵ Châu chết tức là Trọng Thuỷ không thể sống…Đó là bài học cho sự phản trắc: kẻ nào phản bội, tráo trở, bán đứng nơi nuôi mình, người cưu mang mình, kẻ ấy phải chết… Đó còn là bài học đừng bao giờ lợi dụng tình yêu vào mưu đồ chính trị bẩn thỉu hèn hạ.

Triệu Đà được đất nhưng mất con. Mà với bất kỳ ai, kể cả bạo chúa, "hổ dữ không ăn thịt con", thì con cái vẫn là tài sản lớn nhất. Triệu Đà chắc đau xót vô cùng trong hối hận bài học tình yêu là trong sáng, là thiêng liêng, đừng bao giờ đặt nó vào bóng tối… Bao sắc thái biểu cảm quanh cái chết Trọng Thuỷ: đáng thương, đáng giận hay đáng trách? Có lẽ đều có cả! Phải là một trí tuệ, một tấm lòng, một sự bao dung, một thấm thía tình người, một trải nghiệm sâu sắc lẽ thời… mới sáng tạo ra một hình tượng bi kịch như thế!

Mỵ Châu mong manh và cả tin. Cái chết của nàng vừa đích đáng vừa oan khuất. Nàng thành thực và hồn nhiên. Trọng Thuỷ đã nói tới chiến tranh loạn lạc. Nàng cũng nghĩ tới điều đó nên mới nói rằng sẽ mặc áo lông ngỗng… Nhưng sao nàng không nói điều ấy với vua cha? Phải chăng truyền thuyết muốn đưa ra bài học, đừng như Mỵ Châu, dù yêu cũng đừng quên, quên trách nhiệm con cái, quên trách nhiệm công dân. Người phụ nữ đâu chỉ có bổn phận một người tình…?!

Mỵ Châu hiểu ra điều đó vào những phút cuối cùng. Khi lưỡi gươm của vua cha vung lên, nàng không hoảng hốt, không van xin. Lời cuối cùng của nàng vừa là lời than, vừa là lời thề. Than cho tình yêu bị lợi dụng. Thề cho sự ngay thẳng, trắng trong… Máu nàng biến thành ngọc trai quý. Ngọc ấy đem rửa trong nước giếng nơi Trọng Thuỷ chết thì càng sáng. Dân gian công bằng và nhân ái để cho Mỵ Châu tái sinh trong một hình hài mới. Trọng Thuỷ không được tái sinh nhưng tình yêu Mỵ Châu - Trong Thuỷ là tình yêu đích thực nên vẫn phát sáng.

Cũng như viên ngọc trai ấy, truyền thuyết này mãi luôn lấp lánh những ánh sáng ý nghĩa để hậu thế soi lòng người, lòng mình!

Tại sao lại là áo lông ngỗng? Xét theo nghĩa đen thì con ngỗng rất gần gũi với văn minh sông nước, lông ngỗng thường màu trắng, bản to dễ kết nối làm áo (chống mưa, lạnh), làm quạt (quạt lông ngỗng). Cùng loài với thiên nga (ngỗng trời), một loài chim quý, đẹp nên trong văn hoá phương Đông cổ, ngỗng được ví như là sứ giả của trời đất nhưng được hiểu thiên về nghĩa biểu trưng cho tình yêu chung thuỷ. Truyền thuyết khép lại nhưng dư âm ý nghĩa thì mở ra: Hãy tỉnh táo trong tình yêu. Đừng để cho những người phụ nữ phải mặc áo lông ngỗng mà chạy giặc như Mỵ Châu!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).