Những lái tàu quả cảm chở hàng chi viện “tuyến lửa” miền Nam

Cứ đến những ngày đầu tháng 4, những người lái tàu chở hàng trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ lại gặp nhau, hàn huyên về một thời đã qua. Họ cùng nhớ lại những chuyến tàu đối diện trực tiếp với máy bay địch, những lần khó nhọc đưa các toa hàng qua sông khi chẳng may cầu đường sắt bị địch phá hỏng bởi bom đạn, hay những lần tìm lá rừng ăn qua bữa mà không dám tơ hào đến lương thực chi viện chở trên toa…

"Nhờ người dân ra hiệu, nhiều lần chúng tôi thoát chết"

Phải liên hệ nhiều lần, tôi mới có thể hẹn gặp bác Bùi Đình Lục, thành viên tổ lái máy 424 anh hùng và bác Trần Tuấn Phụng, lái tàu thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Tiếp chúng tôi trong căn nhà nhỏ tại Khu tập thể Nhà Dầu, Khâm Thiên, Hà Nội (khu tập thể của đại đa số nhân viên đường sắt qua nhiều năm), hai bác hồ hởi khi nhắc lại kỷ niệm của những ngày lái tàu khó khăn gian khổ nhưng đầy tự hào.

Hai bác cựu lái tàu Trần Tuấn Phụng (trái) và Bùi Đình Lục.

Hai bác cựu lái tàu Trần Tuấn Phụng (trái) và Bùi Đình Lục.

Năm 1967, khi đó chàng thanh niên Bùi Đình Lục, 21 tuổi bắt đầu vào ngành Đường sắt làm lái tàu. Năm 1968, ông được điều sang tổ lái máy 424 anh hùng, chủ yếu phục vụ tuyến đường sắt phía Nam. “Với tài xế, bất luận chuyến tàu nào, khi đã nhận nhiệm vụ là đều phải chấp hành. Trong thời gian này, chúng tôi thường xuyên phải chở hàng vì tàu khách ít (tàu chỉ chạy từ Hà Nội đến Vinh). Đến năm 1975, tôi cũng là một trong những người đầu tiên thực hiện chuyến tàu khách thống nhất Bắc-Nam”, ông Lục chia sẻ và giãi bày thêm: Trong thời gian từ 1967 đến 1975, quãng đường này với người lái tàu hết sức vất vả, vì các đồng chí bộ đội còn có khẩu súng bắn trả địch, chứ lái tàu gần như tay không đương đầu với địch. Thậm chí máy bay địch bay ngay trên đầu tàu cũng không biết vì ngồi trong toa máy, tiếng rất ồn. “Bản thân chúng tôi đã nhiều lần suýt chết vì đoàn tàu trúng rocket. Có lần vừa nhảy xuống, núp ở dưới ta luy đường sắt thì buồng lái bị bắn trúng, không nhanh thì cả 3 người ban máy đã chết rồi”, ông Lục kể.

Để đưa những đoàn tàu về đích an toàn, với hạ tầng yếu kém, trên dọc đường, đa phần lái tàu dựa vào kinh nghiệm và quan sát tín hiệu từ người dân đưa ra. Ông Lục nhớ lại: "Vào khoảng cuối năm 1969, tổ của tôi được giao vận chuyển chuyến hàng quan trọng vào miền Nam. Chuyến tàu xuất phát từ Hà Nội muộn nên khi đi đến dốc Đồng Dao (Ninh Bình) đã tờ mờ sáng, chúng tôi cố chạy vượt dốc để đưa hàng vào thì bị máy bay địch phát hiện. Ngay khi thấy có dấu hiệu tàu chạy bên dưới, địch liền nhằm thẳng toa tàu mà bắn tên lửa.

Cũng may trước đó, chúng tôi liên tục nhìn thấy hình ảnh người dân dọc đường đi tay chỉ lên trời, ra dấu có máy bay phía trên, thế là anh em lập tức phanh tàu, tắt hết máy, nhảy khỏi toa xe. Lần đó, đầu máy toa xe đã hỏng hoàn toàn, mấy toa xe chở hàng cũng bị địch phá huỷ, nhưng cả đoàn không ai bị thương. Đường đi gián đoạn, tàu hỏng, thế là cả đoàn phải dừng lại để chờ khắc phục mất 2-3 ngày đêm. Trong thời gian đấy, chúng tôi vẫn phải tìm cách báo với chỉ huy, điều tàu khác tới chở những toa hàng còn sót kịp đưa đến đích".

Kể đến đây, ông Lục nhấn mạnh, thời đó, biết khu vực Ninh Bình, Thanh Hóa là một trong những điểm trọng yếu trung chuyển tàu hàng Bắc-Nam, có dốc Đồng Dao tàu không thể chạy nhanh, lại là nơi có đến 6 cây cầu qua sông, chỉ cần oanh tạc khu vực này là đã giảm bước tiến của đoàn tàu tiến vào miền Nam nên địch thường xuyên đưa vào tầm ngắm đánh phá. Vì thế, tàu chủ yếu chạy đêm để tránh máy bay Mỹ. Chỉ khi nào nhận được tin tình báo là không có máy bay mới cho tàu chạy ban ngày. Nhưng cũng có những chuyến tàu cần kíp thì dù nguy hiểm, lái tàu vẫn kéo tàu chạy.

"Chúng tôi phải cho tàu lúc thì chạy nhanh, lúc chạy chậm, lúc hãm dừng để tránh phát ra các tín hiệu dễ nhận biết. Có lúc chạy lùi, cứ “vờn” nhau với máy bay Mỹ như thế để giặc lái không căn tọa độ được. Tàu chạy đêm nên đầu máy không được bật đèn pha, lái tàu chủ yếu chạy “mò” bằng kinh nghiệm. Trong buồng máy có máy phát để bật bóng đèn công suất chỉ khoảng 15 watt, nhưng cũng phải dùng bìa các-tông che bớt ánh sáng và chỉ bật cho thợ đốt lửa đập nhỏ than luyện trước khi xúc vào lò. Còn chuyến nào dùng than cám thì không bật đèn. Khó khăn là thế, ấy vậy mà nhiều chuyến tàu hàng chi viện vẫn được những lái tàu siêu đẳng thực hiện xuyên màn đêm an toàn", ông Lục bồi hồi kể.

Càng gian nan, càng sáng tạo

Cùng thực hiện nhiệm vụ kéo tàu phục vụ vận tải trên tuyến lửa Ninh Bình-Thanh Hóa ngày ấy, ông Trần Tuấn Phụng, cựu tài xế xe lửa Xí nghiệp Đầu máy Hà Nội, nhớ lại, năm 1965, sau khi tốt nghiệp khóa đào tạo lái tàu hỏa, ra trường ông được điều ngay về công tác tại Trạm đầu máy Ninh Bình. Việc lái tàu ban đêm để tránh địch đã khó thì việc điều khiển đầu máy đưa những đoàn tàu qua cầu phao an toàn khó hơn nhiều lần.

Ông Phụng kể, hồi đó cầu Ninh Bình bị bắn phá, chưa khắc phục kịp. Quyết không để đứt tuyến vận tải huyết mạch, ngành Đường sắt triển khai hình thức chạy tàu “qua sông không cầu”, nghĩa là làm ferry boot (cầu phao, trên đặt đường ray), cánh lái tàu hay gọi vui là cầu gật gù. Do "ferry boot" chỉ chịu được một tải trọng nhất định nên không thể cho đầu máy kéo tàu qua.

Mặt khác cũng không thể cho cả đoàn xe mấy chục toa qua được. Mỗi lần chỉ cho qua 2-3 toa xe sang, sao cho đảm bảo chiều dài đoàn xe nối được hai bờ sông. Trường hợp toa xe quá nặng, chỉ cho rất ít toa xe qua được, nhân viên đường sắt phải tính toán tải trọng, chèn thêm toa xe rỗng để đủ chiều dài qua bờ bên kia. Cách thức đưa đoàn tàu qua cũng đầy sáng tạo như dùng đầu máy đẩy đoàn tàu từ ga Cát Đằng (Nam Định) ra phía sông, rồi đẩy tiếp lên "ferry boot". Bờ bên này, đầu máy kéo chờ sẵn để nối đoàn xe vào. Khi nào nối xong, nghe thấy tiếng còi báo hiệu từ hai phía đầu cầu, thì cũng là  lúc đầu máy đẩy bên kia được tháo ra khỏi đoàn xe và đầu máy kéo mới kéo được đoàn xe lên bờ. Mọi tác nghiệp giữa các bộ phận, từ lái tàu, đến trưởng tàu, nhân viên nhà ga đều phải rất nhịp nhàng, ăn ý. Nếu không, chỉ “sai một ly, đi một dặm”, cả đoàn xe, thậm chí cả đầu máy sẽ bị trật bánh, lật xuống sông… Để làm được điều này, lái tàu được huấn luyện rất kỹ.

Cán bộ, công nhân ngành Đường sắt khôi phục đường ray để các chuyến tàu kịp thời lưu thông.

Cán bộ, công nhân ngành Đường sắt khôi phục đường ray để các chuyến tàu kịp thời lưu thông.

Theo ông Phụng, để được tuyển đi học lái tàu ở trường nghiệp vụ, bên cạnh yêu cầu về trình độ văn hóa, phải qua được các yêu cầu khắt khe về sức khỏe, nhất là tai thính, mắt tinh. Ra trường, trải qua mấy tháng thực tập là được làm tài xế luôn. Còn nếu được đào tạo tại xí nghiệp đầu máy thì phải trải qua tuần tự các chức danh: Thợ đốt lửa, đổ than rồi đến phụ tài xế và lên tài xế. Cả quá trình phấn đấu lên chức danh tài xế phải mất 7-8 năm.

Tôi hỏi thêm về đời sống của các lái tàu khi đó, hai cựu lái tàu Bùi Đình Lục và Trần Tuấn Phụng nhẹ nhàng nói, hồi đó lái tàu đầu máy hơi nước thường xuyên phải làm việc trong điều kiện vô cùng vất vả vì hơi nóng phả và bụi than liên tục phả vào mặt. Kết thúc mỗi chuyến tàu, ai nấy đen nhẻm mặt mũi, quần áo. Song ngày đó, chế độ lương, tem phiếu cho lái tàu cũng được ưu tiên hơn. Như cán bộ bàn giấy, chuyên viên chỉ được 105 đồng/người/tháng nhưng lái tàu được 115 đồng. Phiếu thịt được 2,5kg/tháng, phiếu đường 1kg/tháng, phiếu gạo được 24kg/tháng...

Chế độ tem phiếu được ưu tiên thế nhưng lái tàu “tuyến lửa” như Ninh Bình-Thanh Hóa cũng không được hưởng vì đi tàu suốt, dọc đường phải tự túc ăn uống. Để thích nghi hơn với môi trường làm việc, đa phần các lái tàu hơi nước đều biết cách tự chế một dụng cụ đun bằng hơi. Mỗi chuyến tàu mang theo gạo, thức ăn, cho vào cặp lồng rồi đun chín bằng dụng cụ đó. Có những lần phải nằm chờ sửa đường, gạo hết thì vào nhà dân xin. Gặp nơi đồi núi thì thay nhau đi hái rau dại ven đường. Có bữa đến nước ao, nước sông để nấu ăn cũng không có, đành phải vo gạo ở nước hố bom vẫn còn mùi bom khét lẹt…

Nhật Uyên

Các tin khác

Nẻo thiện tìm về

Nẻo thiện tìm về

Giúp đỡ người dân đi qua đường khi gặp mưa lũ, không nhận tiền “bồi dưỡng” của đối tượng khai thác gỗ trái phép, không quản thời gian, không nề hà công việc, có lệnh triệu tập là lên đường, đó là bản tính của Nguyễn Quốc Duy - Tổ trưởng Tổ an ninh trật tự (ANTT) thôn Mỹ Thạnh, xã Hàm Thạnh, tỉnh Lâm Đồng.

Ngăn chặn vấn nạn săn bắt chim di cư

Ngăn chặn vấn nạn săn bắt chim di cư

Để ngăn ngừa hành vi đặt bẫy, giăng lưới săn bắt động vật hoang dã (chim trời) mùa di cư, lực lượng Công an cơ sở ở các xã ven biển tỉnh Hà Tĩnh đã đồng loạt triển khai nhiều biện pháp thu gom, phá huỷ các bẫy chim trái phép đến bắt giữ, xử lý những trường hợp săn bắt, tiêu thụ động vật hoang dã trái phép.

Nuôi cá lòng hồ thuỷ điện, hướng sinh kế mới ở miền núi xứ Thanh

Nuôi cá lòng hồ thuỷ điện, hướng sinh kế mới ở miền núi xứ Thanh

Giữa mênh mông lòng hồ thủy điện Trung Sơn, những lồng cá nổi theo từng cụm đang mở ra một hướng sinh kế mới cho người dân vùng núi cao Thanh Hóa. Từ những hộ tiên phong ban đầu, đến nay nghề nuôi cá lồng ở Trung Sơn đã và đang ngày càng phát triển với gần 60 hộ dân tham gia, nhờ nuôi cá lồng (cá chép, cá lăng đen, cá rô phi…), nhiều gia đình có nguồn thu nhập ổn định…

Giữ hồn đại ngàn qua những thanh âm Bru-Vân Kiều

Giữ hồn đại ngàn qua những thanh âm Bru-Vân Kiều

Đối với đồng bào Bru-Vân Kiều, văn hóa không chỉ hiện hữu trong những lễ hội được tổ chức theo mùa, những bộ trang phục thổ cẩm rực rỡ hay âm thanh của cồng chiêng giữa đại ngàn. Văn hóa còn nằm trong từng làn điệu dân ca, tiếng sáo, tiếng đàn, trong cách làm một nhạc cụ và những nghi thức được người già truyền lại cho người trẻ. Đó là mạch nguồn âm thầm nuôi dưỡng bản sắc cộng đồng qua bao thế hệ.

Lời tuyên thệ ở Bentiu

Lời tuyên thệ ở Bentiu

Ngày 19/8, đúng dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công, tại Bentiu, Nam Sudan, hai nữ quân nhân cùng công tác tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Dã chiến cấp 2 số 7 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tiếng máy thuyền giữa đại ngàn

Tiếng máy thuyền giữa đại ngàn

Ở Hôi Rấy và Nước Đắng, hai bản người Bru-Vân Kiều nằm sâu dọc sông Long Đại, xã miền núi Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị, tiếng máy thuyền vọng lại từ phía hạ nguồn đã trở thành âm thanh quen thuộc với bà con. Giữa nơi còn biệt lập với bên ngoài, âm thanh ấy báo hiệu một chuyến thuyền đang ngược dòng lên bản.

Dòng sông "vàng" và những phận đời lam lũ

Dòng sông "vàng" và những phận đời lam lũ

Mỗi mùa khô, khi dòng Đakrông (Quảng Trị) rút nước, những doi cát và bãi đá lộ ra cũng là lúc hàng chục người dân Pa Cô, Vân Kiều lặng lẽ mang theo chiếc mâm sắt xuống sông đào đãi vàng sa khoáng. Sau những hạt vàng nhỏ bé là cuộc mưu sinh đầy nhọc nhằn, những khoảng lòng sông bị đào xới và nỗi trăn trở về sinh kế của đồng bào vùng cao.

Kỳ cuối: Cạm bẫy “công nghệ hóa” ma túy và sự chuyển hóa nhận thức

Kỳ cuối: Cạm bẫy “công nghệ hóa” ma túy và sự chuyển hóa nhận thức

Ẩn mình dưới hình hài những thiết bị điện tử nhỏ gọn, thơm tho mùi kẹo ngọt hay trái cây nhiệt đới, pod chill chứa Etomidate đang có nguy cơ càn quét vào các không gian giải trí của giới trẻ. Từ chỗ chỉ thử “cho biết” theo lời rủ rê, nhiều thanh thiếu niên đã nhanh chóng trượt dài thành kẻ nghiện ngập, thậm chí trở thành mắt xích tiếp tay cho tội phạm ma túy.

Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cầm trên tay chiếc “pod chill” nhỏ gọn, tỏa ra mùi hương trái cây ngọt ngào, nhiều bạn trẻ hồn nhiên nghĩ rằng mình chỉ đang dùng một sản phẩm giải trí thời thượng. Nhưng đằng sau làn khói thơm ấy lại là Etomidate - một hoạt chất gây mê y học bị giới tội phạm “biến tướng” thành ma túy nguy hiểm. Đáng lo ngại hơn, hàng loạt lời quảng cáo dối trá “hút không lên test”, “que thử âm tính” đang khiến không ít người sập bẫy pháp lý và đối mặt với hiểm họa khôn lường về sức khỏe.

Mối tình của anh thương binh và một cô gái mồ côi

Mối tình của anh thương binh và một cô gái mồ côi

Câu chuyện cuộc đời và tình yêu của người thương binh nặng Nguyễn Văn Dũng (ngụ phường Phước Hội, tỉnh Lâm Đồng) với cô gái mồ côi vượt qua những năm tháng khó khăn đã trở thành một biểu tượng đẹp và nghị lực phi thường, như chuyện cổ tích về lòng nhân ái, đức hy sinh của những người phụ nữ với các thương, bệnh binh làm xúc động lòng người.

Thư gửi con của anh hùng Lê Thị Riêng

Thư gửi con của anh hùng Lê Thị Riêng

Những lá thư gói trọn tình yêu, nỗi nhớ và khát khao mong chờ ngày đoàn tụ gia đình, gặp lại con thơ và người chồng yêu thương của Anh hùng LLVTND Lê Thị Riêng vẫn được người con trai của bà lưu giữ, bảo quản trang trọng trong trái tim và ký ức…

Bài cuối: Tiếp nối lời hứa với những người nằm lại

Bài cuối: Tiếp nối lời hứa với những người nằm lại

Ở nhiều vùng quê của Quảng Trị, những người đến lấy mẫu sinh phẩm ADN cho thân nhân liệt sĩ không chỉ mang theo các thiết bị chuyên dụng, hồ sơ nghiệp vụ hay biểu mẫu thu nhận thông tin. Họ còn mang theo một lời hứa. Đó là sẽ cố gắng làm tất cả những gì có thể để thêm một người lính nữa được gọi đúng tên.

Bài 2: Từ di vật chiến tranh đến tên người lính

Bài 2: Từ di vật chiến tranh đến tên người lính

Tháng Bảy trên miền đất thiêng Quảng Trị, nhiều cuộc tìm kiếm vẫn đang tiếp diễn. Có gia đình vừa đón được người thân trở về nhờ giám định ADN. Có những người vẫn băng rừng lần theo từng dấu tích chiến trường. Và cũng có những cuộc tìm kiếm đã khép lại từ một di vật tưởng chừng vô tri nằm dưới lòng đất hơn nửa thế kỷ.

Giữ bình yên phía sau cánh cổng thép

Giữ bình yên phía sau cánh cổng thép

Khám phá công việc của cán bộ quản giáo và chiến sĩ thi hành án tại Gia Lai, những chiến công thầm lặng bảo vệ an ninh, cảm hóa người lầm lỗi.

Bài 1: Những cuộc tìm kiếm chưa bao giờ dừng lại

Bài 1: Những cuộc tìm kiếm chưa bao giờ dừng lại

Tháng Bảy, khi hàng vạn người từ khắp mọi miền đất nước về Quảng Trị dâng hương tri ân các anh hùng liệt sĩ, trên mảnh đất từng là chiến trường ác liệt này vẫn có những cuộc tìm kiếm lặng lẽ diễn ra. Có gia đình sau hơn nửa thế kỷ mới xác định được nơi người thân yên nghỉ nhờ giám định ADN. Có những người vẫn mang theo tấm sơ đồ cũ băng rừng, vượt suối để tìm cha. Mỗi cuộc tìm kiếm là một hành trình đi qua thời gian, nối quá khứ với hiện tại bằng khát vọng đưa những người lính trở về với gia đình và quê hương.

Tháng Bảy tri ân ở “tọa độ lửa” Ngã ba Đồng Lộc

Tháng Bảy tri ân ở “tọa độ lửa” Ngã ba Đồng Lộc

Những ngày tháng Bảy, hàng vạn du khách từ khắp nơi trên mọi miền đất nước đã tìm về "địa chỉ đỏ" Khu di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh) để tri ân, tưởng nhớ 10 liệt nữ TNXP và các anh hùng, liệt sĩ nhân dịp kỷ niệm 58 năm Chiến thắng Đồng Lộc (24/7/1968 - 24/7/2026) và 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2026).

Lời thề trước giờ ra trận và hành trình tìm đồng đội của bác sĩ già

Lời thề trước giờ ra trận và hành trình tìm đồng đội của bác sĩ già

Dưới cái nắng oi ả của những ngày trung tuần tháng 7, tại Công viên Lê Thị Riêng (TP Hồ Chí Minh), không khí làm việc của Đội Tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ Tư lệnh TP Hồ Chí Minh diễn ra khẩn trương nhưng cẩn trọng và khoa học. Bên những hố đất sâu, có bóng dáng một người đàn ông năm nay đã 82 tuổi với cặp kính dày, đôi tay tỉ mỉ gạt từng lớp bùn đất, phân loại từng mẩu xương, từng di vật nhỏ…

Hiệu quả chuyển đổi số trong ngành thuế

Hiệu quả chuyển đổi số trong ngành thuế

Chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu trong quản lý Nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính - thuế, nơi yêu cầu cao về tính minh bạch, chính xác và kịp thời. Ngành thuế Việt Nam đang từng bước đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, số hóa quy trình quản lý nhằm xây dựng hệ thống thuế hiện đại, lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ.