Ngày 11/9/2001, một sự kiện đã làm thay đổi thế giới, đó là hai tòa tháp Trung tâm thương mại thế giới ở New York bị sụp đổ bởi một kế hoạch tấn công bằng máy bay dân dụng, được tổ chức rất chặt chẽ, hoàn hảo và chính xác.
Nhà báo Nguyễn Như Phong, Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn hóa - Văn nghệ Công an và Báo ANTG đang tác nghiệp tại Thủ đô Islamabad của Pakistan (tháng 10/2001) trước ngày Mỹ mở màn cuộc chiến tranh tại Afghanistan sau vụ khủng bố 11/9.
Thủ lĩnh của Al-Qaeda là Bin Laden đã tổ chức cuộc tấn công này. Và dĩ nhiên, ngay sau đó nước Mỹ đã mở một cuộc tấn công tổng lực nhằm tiêu diệt chính quyền Taliban ở Afghanistan và truy lùng Bin Laden.
Từ đầu tháng 10, cả khu vực Trung Á là Afghanistan, Pakistan như một lò thuốc súng sắp bùng nổ. Hàng ngàn nhà báo trên khắp thế giới đổ dồn về Pakistan, trong đó, dĩ nhiên là phải có những hãng thông tấn lớn nhất thế giới như: CNN, BBC, Reuters, AFP...
Một buổi chiều Chủ nhật, tôi đến 100 Yết Kiêu chơi với anh Hữu Ước và hai anh em trao đổi với nhau về thông tin tình hình Afghanistan.
Bỗng dưng, tôi bảo anh Ước: “Anh, em đi sang đó nhé?”. Anh Ước nói ngay: “Mày đi được thì tốt quá. Tìm hiểu xem thủ tục thế nào?”.
Nhưng nói xong, tôi biết ngay là không thể đi vì một nửa chữ tiếng Anh tôi cũng không biết. Tiếng Pháp thì tôi cũng tàm tạm ở mức giao tiếp thoải mái, nhưng Pakistan thì lại chỉ dùng tiếng Anh.
Vừa nói đến đây thì nhà văn Nguyễn Quang Thiều cũng đến chơi. Và tôi rủ Quang Thiều đi bởi tôi biết Thiều rất giỏi tiếng Anh. Không ngờ Quang Thiều đồng ý ngay mà lại còn vô cùng hào hứng.
Thế là ngày hôm sau, Thiều đến thẳng Đại sứ quán Pakistan đặt vấn đề. Và cũng không ngờ ông đại sứ lại cực kỳ nhiệt tình và lo tất cả thủ tục cho hai chúng tôi, tất cả chỉ sau 2 ngày.
Cơ quan thì kết nối với một công ty du lịch ở Pakistan và thuê cho hai anh em một xe ô tô có người lái với giá 70 USD/ngày, thuê một ông người Pháp là tay chơi Polo dịch từ tiếng Anh, tiếng Urdu (thổ ngữ của Pakistan) sang tiếng Pháp cho tôi.
Và để có thêm chút hiểu biết về Hồi giáo, tôi đã đến Ban đại diện Cộng đồng Hồi giáo TP Hồ Chí Minh để xin tài liệu.
Vị lãnh đạo Ban đại diện sau khi làm việc với tôi đã nói: “Nếu anh muốn hiểu về những người Islam thì hãy đọc quyển kinh này”. Và ông đưa cho tôi cuốn Kinh Koran (ý nghĩa và nội dung do NXB Tôn giáo xuất bản năm 2000).
Cuốn sách in rất đẹp, bìa cứng và dày 1.330 trang. Điều đặc biệt là cuốn sách này in song ngữ, một bên là tiếng Việt và một bên là tiếng Arập. Nhìn cuốn sách mà tôi thấy hơi nản, bởi lẽ nó dày và nặng quá. Có lẽ cuốn kinh này phải nặng tới một cân rưỡi. Nhưng vị lãnh đạo ban đại diện đã tặng thì tôi cũng cố gắng mang đi.
Mang về nhà, tôi chưa kịp đọc chữ nào thì đã lên đường. Trong túi hành lý, ngoài những thứ cần thiết, kể cả mỳ ăn liền, lương khô, máy tính, tôi cũng cố nhét thêm quyển Kinh Koran.
Và có lẽ chuyến đi sang Pakistan của tôi với Quang Thiều là chuyến đi đầu tiên của báo giới Việt Nam đến một điểm nóng trên thế giới. Và chúng tôi đi chả xin phép Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, chả xin phép Bộ Văn hóa và Thông tin ngày ấy, cũng chả xin phép lãnh đạo Bộ Công an, mà anh Ước chỉ báo cáo cho mỗi lãnh đạo Tổng cục III (lúc đó tên gọi là Tổng cục Xây dựng lực lượng).
Sang Pakistan, chúng tôi và rất nhiều phóng viên khác đều mong ước đến được Afghanistan qua đường Pakistan. Nhưng muốn đi thì phải xin được visa từ chính quyền Taliban mà cụ thể là Đại sứ quán Afghanistan ở thủ đô Islamabad.
Ngày thứ nhất, chúng tôi đến đăng ký ở đại sứ quán và chầu chực gần như hết cả ngày, nhưng đại sứ quán không cấp phép cho một ai cả. Và mục tiêu của chúng tôi là phải làm thế nào phỏng vấn được một nhân vật có vị trí trong đại sứ quán. Nhưng làm thế nào để lọt được vào lại không đơn giản, bởi lúc nào ngoài cổng của đại sứ quán cũng có hàng chục phóng viên chờ lấy thông tin. Nhiều phóng viên còn có cả điện thoại vệ tinh.
Không biết làm thế nào có thể vào được đại sứ quán, bỗng dưng tôi nghĩ đến cuốn Kinh Koran.
Số Báo An ninh thế giới với phóng sự nóng hổi từ vùng chiến sự Trung Á (tháng 10/2001).
Thế là ngày hôm sau, tôi sắm bộ quần áo Hồi giáo lụng thụng bằng vải pô-pơ-lin màu xanh trứng sáo, một tay cầm Kinh Koran, một tay xách máy ảnh đến đại sứ quán. Nhìn thấy tôi cắp quyển kinh, lập tức ánh mắt của nhân viên bảo vệ thay đổi hẳn, họ ân cần hỏi han là tôi đến với nguyện vọng gì. Tôi và Quang Thiều trình bày rằng, chúng tôi đến để xin được cấp visa sang Afghanistan và muốn được phỏng vấn Đại sứ Afghanistan ở Pakistan - ông Apdul Mohamet Zaeep.
Người lính bảo vệ gọi điện vào trong, một lát sau có nhân viên ra, tôi đưa quyển Kinh Koran cho ông ta. Ông ta kính cẩn áp lên trán rồi ôm quyển kinh đi vào trong. Tất cả cánh nhà báo phóng viên phương Tây nhìn chúng tôi bằng ánh mắt lạ lẫm, ngạc nhiên vô cùng.
Một lát sau, có một người ra mời chúng tôi vào trong. Đó là Habit - viên Bí thư thứ nhất của Đại sứ quán Taliban tại Pakistan. Anh ta khá trẻ, có nước da trắng và bộ râu rất đẹp, nom như một diễn viên.
Anh lễ phép nói rằng ngài đại sứ đang rất bận, cho nên không thể tiếp tôi được và anh ta được sự ủy quyền của đại sứ tiếp đón tôi. Tôi phỏng vấn anh ta về tình hình cuộc chiến của Mỹ tại Afghanistan, rồi trình bày nguyện vọng được đi sang Kabul - thủ đô của Afghanistan.
Anh ta nói vắn tắt về tình hình chiến sự. Về đề nghị thứ hai của chúng tôi thì anh ta nói sẽ đưa tôi vào danh sách ưu tiên nhất khi có thể. Tuy nhiên, do tình hình Mỹ và liên quân đang đánh rất ác liệt, nên việc đảm bảo an toàn cho các nhà báo đi sang đó là rất khó khăn. Thế rồi anh ta hỏi tôi về tình hình cộng đồng người theo đạo Hồi ở Việt Nam, anh ta nói: “Việc chính quyền Việt Nam cho phép xuất bản Kinh Koran bằng 2 thứ tiếng thế này chứng tỏ Việt Nam rất tôn trọng tôn giáo, trong đó có đạo Hồi. Điều này, không như bọn Mỹ nói là Việt Nam không có tự do tôn giáo”.
Chuyện trò được 40 phút thì anh ta xin phép tôi ngừng lại và ôm quyển Kinh đi vào trong. Một lát sau, anh quay ra đưa lại cho tôi quyển kinh và trên đó đã có dòng chữ Arập. Tôi đưa cho người phiên dịch đọc và ông đã dịch ra bằng tiếng Pháp, đại ý là: “Bạn quan tâm đến số phận những người Islam. Tôi rất vui mừng. Xin cảm ơn” - Đó là bút tích của Abdul Mohamet Zaeep, Đại sứ Afghanistan tại Pakistan.
Khi tôi quay ra, tất cả cánh phóng viên báo chí đứng bên ngoài nhìn chúng tôi với đủ loại ánh mắt, họ vừa ngạc nhiên, vừa tò mò pha chút ghen tỵ. Bởi lẽ trong ngày ấy, Đại sứ quán Taliban tiếp mỗi mình tôi. Chiều hôm đó, phóng viên BBC đã mò đến khách sạn chúng tôi ở để đề nghị phỏng vấn. Tất nhiên là với BBC, chúng tôi luôn cảnh giác cao độ nên đã khéo từ chối và không mở mồm nói hớ điều gì.
Rồi cũng mất 200 USD cho người phiên dịch, chúng tôi gặp được Hamid Ghull, Cục trưởng Cục Tình báo quân đội Pakistan - một nhân vật quan trọng trong Tổ chức Hồi giáo Jihad (một tổ chức thánh chiến chống lại Mỹ và phương Tây).
Ông Hamid Ghull đã rất tận tình giúp đỡ và tìm đường cho chúng tôi sang Afghanistan. Ông giới thiệu cho chúng tôi một người “bố già” buôn vũ khí và ôtô cho chính quyền Taliban tên là Hazip, là “bạn bè” với các nhân vật chóp bu của Taliban, đặc biệt là Giáo chủ Oma. Mất gần một tuần, ông đưa tôi và Quang Thiều đi đủ mọi nơi, mọi chốn. Cuối cùng, chúng tôi được đưa vào danh sách những người sẽ được cấp visa vào Afghanistan đầu tiên… Nhưng xem ra chuyến đi bằng con đường hợp pháp không thể có, nên chúng tôi bàn với ông là đi theo đường… tiểu ngạch.
Thế là ông hưởng ứng ngay và gọi một loạt đệ tử của mình đến, lệnh cho họ bố trí cho chúng tôi sang bên đó, dĩ nhiên là ông cũng sẽ đi cùng.
Chúng tôi chuẩn bị những bộ quần áo của người Hồi giáo hay mặc, để râu dài. Ngày giờ lên đường đã được ấn định và chúng tôi đi ôtô từ thủ đô Islamabad tới cửa khẩu Peshawar. Tiếp đó, phải đi bộ, băng qua khoảng 20km đường mòn, sang bên kia rồi thì sẽ có người đưa đi tiếp bằng xe Range Rover… Thời gian đi tới thủ đô Kabul mất khoảng một ngày rưỡi… Chúng tôi sẽ ở Kabul khoảng 2 đến 3 ngày, sau đó quay về khu vực cửa khẩu Peshawa…
Biết chuyến đi này cực kỳ khó khăn và vô cùng nguy hiểm. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn “máu”. Dĩ nhiên, trước khi đi thì vẫn phải xin ý kiến của Ban Biên tập báo và lãnh đạo Bộ Công an.
Đúng lúc này, một loạt báo nước ngoài đưa tin là Việt Nam cử cán bộ công an sang “giúp đỡ” chính quyền Afghanistan dưới danh nghĩa “phóng viên báo chí”. Thế là Bộ trưởng Lê Minh Hương gọi cho anh Ước và yêu cầu chúng tôi quay về ngay.
Khi tôi thông báo với ông Hazip, ông buồn lắm. Ông cứ ôm lấy chúng tôi và rơm rớm nước mắt. Cho đến bây giờ, mặc dù năm tháng trôi qua đã lâu, nhưng tôi vẫn nhớ như in hình ảnh một ông già Pakistan phương phi, có nét mặt đôn hậu, nụ cười ấm áp và luôn sẵn sàng giúp đỡ chúng tôi mà không cần điều kiện gì. Ông dặn đi dặn lại chúng tôi rằng trong thời gian ở Pakistan đừng rời quyển Kinh Koran, đi đâu dù nặng mấy cũng cố cõng theo: “Khi anh cầm theo quyển kinh này thì sẽ không có một tín đồ Islam nào lại không coi anh là bạn”. Câu nói của ông cứ ám ảnh tôi mãi.
Khi quay trở về Việt Nam, chúng tôi phải bay từ Islamabad xuống Karachi và chờ ở đó 2 ngày.
Chúng tôi phải ra sân bay Karachi trở về Việt Nam trước giờ bay 6 tiếng. Bởi lẽ nếu như đi sát giờ bay thì không khéo bị tắc đường, và có trục trặc gì thì rất gay, đồng thời không có taxi chạy ban đêm. Thế là chuyến bay vào lúc 3h sáng, tôi với Quang Thiều phải đi từ lúc 21h. Làm thủ tục xong, chúng tôi vạ vật không biết làm gì cho hết quãng thời gian này, thế là đành lấy máy tính ra làm việc.
Đúng lúc đang gõ bài thì có một tốp cảnh sát đi tới, yêu cầu kiểm tra giấy tờ. Tôi mở chiếc túi du lịch để lấy giấy tờ thì lộ ra quyển Kinh Koran. Lập tức, một nhân viên cảnh sát cầm lấy quyển Kinh và động tác đầu tiên là úp quyển Kinh lên trán. Sau đó, anh ta yêu cầu không được để quyển Kinh trong túi hành lý mà phải cầm trên tay. Rồi họ đọc dòng chữ của ông Zaeep trong quyển Kinh. Ngay lập tức, họ thay đổi thái độ với chúng tôi. Họ cung kính, lễ phép và nói năng nhẹ nhàng không thể tưởng tượng được. Rồi họ hỏi chúng tôi là quen với ông đại sứ này hay sao. Dĩ nhiên, lúc đấy chẳng ai “đánh thuế thằng nói phét” cả, nên Quang Thiều đã nói về ông đại sứ cứ như là “bạn bè”, thế là họ càng kính nể.
Thế rồi sau vài câu chuyện, họ đưa chúng tôi vào một phòng riêng có đồ ăn thức uống và dặn chúng tôi cứ yên tâm ngủ, sắp đến giờ bay họ sẽ gọi. Đến lúc này, tôi mới thấy giá trị của quyển Kinh Koran và từ đó tôi bắt đầu đọc Kinh Koran một cách cẩn thận, đồng thời cũng chú tâm tìm hiểu về thế giới Arập nói chung và những người Hồi giáo nói riêng.
Để trở thành một tín đồ Hồi giáo, chỉ cần long trọng tuyên bố: “Ala là Thượng đế duy nhất và Muhammad là sứ giả của Người”. Rồi cũng rất đơn giản, hàng ngày tín đồ phải cầu nguyện 5 lần vào lúc 5 giờ sáng, 9 giờ, 12 giờ, 15 giờ và 21 giờ. Cầu nguyện ở chỗ nào cũng được, miễn là hướng mặt về Thánh địa Mecca, với tư thế quỳ, úp trán xuống đất. Nhà thờ Hồi giáo cũng cực kỳ đơn giản, không trang trí cầu kỳ như những nhà thờ Thiên Chúa giáo, cũng không lắm tượng, lắm ban bệ như chùa Phật giáo… Nhà thờ hay thánh đường Hồi giáo có hai loại: Đại thánh đường (Mosque) và tiểu thánh đường (Surao). Thánh đường Hồi giáo là ngôi nhà lớn có mái vòm hình củ hành, hình tròn hoặc xây cuốn. Ở góc phía ngoài trên mái nhà có một chỗ dành cho người có một chức sắc nhỏ trong thánh đường gọi là Bilal đứng để kêu gọi mọi người biết đến giờ cầu nguyện. Thánh đường Hồi giáo phải quay cửa về hướng Mecca và phía trong bài trí đơn giản, không có bàn ghế, không có đồ thờ tự. Bức tường phía trong quay về Mecca có một bục nhỏ để Kinh Koran, phía ngoài thánh đường có một bể nước nhỏ để tín đồ rửa tay trước khi vào lễ cầu nguyện. Trong thánh đường Hồi giáo chỉ có độc một dòng chữ: “Hằng ngày các ngươi làm gì, ăn gì, uống gì, suy nghĩ gì, Ala đều biết cả”. Đối với Hồi giáo, trong một năm, thời gian quan trọng nhất là vào tháng 9 Hồi lịch tức là vào tháng 11-12 Dương lịch. Đây là tháng Ramadan kỷ niệm sự kiện Thần Gabriel đem Kinh Koran xuống dạy cho Muhammad. Trong tháng này, tín đồ phải sống chay tịnh từ khi mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn. Chay tịnh có nghĩa là không được ăn uống, hút thuốc, không được ngủ với phụ nữ… nhưng khi trời tối thì… thoải mái. Ban ngày, tín đồ phải sống trong tĩnh lặng và suy nghĩ về những việc làm của mình… Ngoài ra còn có những lễ khác như lễ kỷ niệm ngày Muhammad đến Medina mở đầu cho kỷ nguyên Hồi giáo (ngày 6 tháng 1 Hồi lịch); lễ sinh nhật Muhammad vào ngày 12 tháng 3 Hồi lịch, lễ Cống sinh là lễ được tiến hành sau 70 ngày lễ Ramadan. Trong lễ này, mỗi người Hồi giáo chân tín phải giết một con cừu, dê hay lạc đà để dâng cống sinh mạng cho thượng đế. Đây là một nghi lễ khá quan trọng vì các tín đồ Hồi giáo tin rằng nếu không có vật cống sinh thì sẽ không được lên thiên đàng. Và hằng tuần, vào ngày thứ Sáu, tất cả các nam tín đồ phải đến thánh đường cầu nguyện, nghe đọc Kinh Koran hoặc nghe giảng đạo. Ngoài những quy định trên thì đạo Hồi không có những lễ lạt, không có tu sĩ, không có điện thờ, không có tranh tượng và không có ca nhạc tôn giáo. Ở mỗi đền thờ, duy nhất có một người điều hành nghi lễ gọi là Imam.
Sau này, cuộc đời làm báo đã cho tôi đến được những đền thờ Hồi giáo lớn nhất ở Islamabad của Pakistan, ở Jordan; ở Palestine; ở Kazakhstan; Azerbaijan… và quả thật, cứ nhìn cách họ hành lễ, cứ nhìn sự trật tự, ngăn nắp lạ lùng ở những nơi công cộng, và cứ nhìn những khuôn mặt nghiêm trang khi xưng tụng Thánh Ala, cũng như những ánh mắt sâu thăm thẳm của những cô gái Hồi giáo thì mới thấy rằng, đúng là bánh mì, cơm, nước… cho con người ta cuộc sống; còn tôn giáo mới cho người ta hy vọng.
Chút kỷ niệm về một chuyến đi là thế!