Những khúc đồng dao…

“Ca dao”, hiểu theo từ nguyên là lời hát, bài hát có nhạc hoặc không nhạc đệm biểu hiện một cách trực tiếp tâm hồn, tình cảm con người. “Ca” là bài hát có nhạc, “dao” là bài hát không có nhạc. Kinh Thi có câu: “Tâm chi ưu hĩ, ngã ca thả dao” (Lòng ta buồn, ta ca và dao). Như vậy “ca” khác “dao”. Vì thế có khái niệm “đồng dao”, tức những bài hát không nhạc đệm dành cho trẻ con.

Ngày xưa, mỗi đêm trăng những khúc đồng dao vang lên, vui vẻ, rộn rã hay băn khoăn, thắc thỏm… như điềm báo về một thời thế thái bình hay bất an. Vì trẻ em thánh thiện, ngây thơ nên người ta tin đó là những lời hát mang tính “tiên tri”, “tiên cảm”, hoặc do thánh nhân mượn lời trẻ em “phán” cho người trần!

Đồng dao là những lời hát trẻ em dễ nhớ bởi đặc trưng giàu tính nhạc nhờ sự tạo vần vè, ngắt câu đều đặn, thường là 4 âm tiết (Nu na nu nống/ Đánh trống phất cờ…) hoặc lục bát quen thuộc. Chiếm số lượng lớn nhất trong kho tàng đồng dao Việt Nam là những bài hát nói về sinh hoạt vui chơi của trẻ em, như “Rồng rắn lên mây”, “Dung dăng dung dẻ”, “Thả đỉa ba ba”…

Tranh dân gian Đông Hồ: Rồng rắn lên mây.
Tranh dân gian Đông Hồ: Rồng rắn lên mây.

Lời bài hát ngắn gọn, ngộ nghĩnh: “Dung dăng dung dẻ/ Dắt trẻ đi chơi/ Đến cổng nhà trời/ Lạy cậu lạy mợ/ Cho cháu về quê/ Cho dê đi học/ Cho cóc ở nhà/ Cho gà bới bếp/ Xì xà xì xụp/ Ngồi thụp xuống đây”. Chiếm số lượng nhỏ hơn là những bài đồng dao gắn liền với lao động: “Nghé bầu nghé bạn/ Trâu cày ruộng cạn/ Mẹ cày ruộng sâu/ Lúa tốt bằng đầu/ Cò bay thẳng cánh/ Một sào năm gánh/ Một mẫu năm trăm/ Một bông lúa chăm/ Một trăm hạt thóc/ Hạt bằng đấu bảy/ Hạt bằng đấu ba/ Hạt bằng trứng gà/ Hạt bằng trứng vịt/ Hạt bằng trái mít/ Hạt bằng bình vôi/ Hạt nào vỡ đôi/ Bằng nồi gánh nước/ Nghé ơi...”.

Bộ phận thứ ba là những bài mang tính khám phá tự nhiên, chủ yếu nói về các loài vật. Loại đồng dao này có giá trị bồi dưỡng nhu cầu hiểu biết, trí tuệ, tình yêu thiên nhiên, tinh thần nhân ái: “Tùng, tùng, tùng/ Đánh ba tiếng trống/ Sắp quân cho chỉnh/ Phượng hoàng thống lĩnh/ Bạch hạc hiệp đồng/ Tả chi thì công/ Hữu chi thì sếu/ Giang cao ngất nghểu/ Đi trước tiên phong/ Cả mỏ bồ nông/  Đi sau tiếp hậu/ Giang giục đôi bên/ Chú quạ thông tin/ Mang thư đi trước/ Một đàn vịt nước/ Chú két, chú le/ Sắm sửa thuyền bè/ Cho bọn trẩy thuỷ/  Còn loại bé tí/ Chim chích, chim ri/ Ở nhà coi sóc/ Chú cò, chú cốc/ Coi sóc các làng/ Chèo bẻo nổ năng/ Bầu cho làm huyện/ Đêm hôm đi tuần/ Phó cho chú vạc/ Chú ngỗng nghếch ngác/ Như thể đàn gà/ Chú vịt chú gà/ Chạy như cun cút...”.

Bài này như là một sự “tập hợp” các con vật thân quen (ngày xưa) với phượng hoàng, hạc, công, sếu, giang, bồ nông, quạ, vịt, két, le le, chim chích, chim ri, sóc, cò, cốc… Thú vị là lời hát bước đầu cung cấp hình dáng hoặc tập quán của từng loài: Giang cao ngất nghểu, quạ báo tin, ngỗng nghếch ngác… Chúng cũng là một xã hội như loài người.

Bộ phận thứ tư được gọi là “đồng dao sấm ký”, tức những bài hát trẻ con mang tính tiên tri về thời cuộc. Trong các tiểu thuyết cổ điển thường hay có những khúc đồng dao tiên đoán về vua này lên ngôi, trận đánh kia thất bại…

Rất nhiều khả năng là do người lớn làm rồi bày cho trẻ con đọc. Đây là hình thức “tâm lý chiến”, “truyền thông chiến” đánh vào tâm lý đối phương! Tương truyền để dân lành bớt đổ máu, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm làm bài sấm đồng dao “phán” cho vua Lê, chúa Trịnh phải biết chấp nhận nhau, liên kết với nhau để cùng tồn tại: “Lê tồn Trịnh tại/ Trịnh bại Lê vong/ Bao giờ ngựa đá sang sông/ Thì dân Vĩnh Lại Quận Công cả làng”.

Giai thoại kể, sau này khi họ Trịnh mạt thời, Trịnh Khải qua làng Vĩnh Lại kêu gọi mọi người giúp Nhà chúa, những ai giúp đều được ban Quận công, thành ra đúng là “Vĩnh Lại Quận công cả làng”!!!

Thế giới đồng dao từ xa xưa được văn bản hoá trong truyện Nôm được coi là những bài hát có giá trị cả về nội dung và nghệ thuật, rất đáng được nghiên cứu, tìm hiểu. Ở đây, chúng tôi xin sơ lược giới thiệu đồng dao ở một vài tác phẩm.

Đối tượng nghe cơ bản của truyện Nôm hướng đến là trẻ em nhằm mục đích để giáo dục, chủ yếu là mang tính khuyến giáo đạo đức. Điều này lý giải nhân vật tích cực thường ở độ tuổi từ 8 đến 13 tuổi, và hầu hết là học trò, con nhà nghèo, bình dân để tạo nên một sự đồng cảm trong tâm lý tiếp nhận. Vì mục đích này mà ta thấy dân gian nhiều khi hy sinh tính chân thật của sự kiện, có nhân vật đã “nếm trải” mấy năm trong cuộc đời mà vẫn thấy kể tuổi ban đầu.

Sự vận dụng đồng dao vừa tạo ra tiếng cười vui, vừa để dễ đọc, dễ nhớ, lại gần gũi với đối tượng nên rất được ưu tiên sử dụng. Ví dụ một đoạn tiểu sử “tự thuật” của nhân vật Tống Trân trong “Tống Trân - Cúc Hoa”: “Anh là Tống Trân/ Mười ba bảng xuân/ Tên anh đệ nhất/ Nghĩ mừng gia thất/ Bái tổ vinh quy/ Lòng vua có nghì/ Gả nàng công chúa/ Lòng anh thương vợ/ Có nghĩa có nhân/ Nuôi mẹ ân cần/ Nghĩa nàng khẩn khẩn/ Công chúa lòng giận/ Làm bản tấu lên/ Đày anh viễn biên/ Hầu vua Tần quốc…”. Ta thấy trong cách ngắt nhịp 4 chữ quen thuộc thì nguyên tắc cơ bản của đồng dao là láy âm: ân (trân/ xuân/ ân cần/ khẩn khẩn/ giận); ất (nhất/ thất); i (quy/ nghì); âu (tấu/ hầu); iên (viễn/ biên).

Tranh dân gian Quan Trạng vinh quy.
Tranh dân gian Quan Trạng vinh quy.

Một mảnh bản trạng cáo (tức sớ tâu bày) của Phạm Công trong “Phạm Công - Cúc Hoa” dâng lên Ngọc Hoàng: “Hung Nô man rã/ Bắt gả con cho/ Tôi đội ơn vua/ Vợ nhà đã có/ Hung Nô thịnh nộ/ Dạy phải đóng gông/ Giam hãm ngục trung/ Chân tay chặt hết/ Những điều hà hiếp/ Khốn khó làm vầy/ Khoét mắt khoét mày/ Tội tình khổ nhục/ Làm tôi cơ cực/ Giam hãm ngục hình/ Mấy nhời chứng minh/ Phân phân khúc trực… Nay trạng”, láy các vần: a (rã/ gả/ nhà/ đã/ hà); ô (nô/ nộ/ khổ); inh (thịnh/ tình/ hình/ minh); ân (chân/ phân phân); ung (hung/ trung); uc (ngục/ nhục/ ngục/ khúc).

Thư của Phạm Công (“Phạm Công - Cúc Hoa”) gửi cha mẹ cũng là “đồng dao”:

“Thư rằng:

Giời cao muôn trượng/ Non cách ngàn trùng/ Gặp hội tao phùng/ Thương cha cùng mẹ/ Xưa tôi còn bé/ Tên là Phạm Công/ Đội đức cửu trùng/ Cho tôi phò mã/ Vua cho sang cả/ Tặng chức Quận công/ Tiết chế binh nhung/ Cầm quyền sinh sát/ Thuỷ bộ kiêm hết/ Khắp cả chư dinh/ Đội đức thánh minh/ Được bề vinh hiển/ Khi tôi bần tiện/ Cơ khổ quá chừng/ Vợ chồng chân nâng/ Mẹ cha về trước/ Chạy xuôi chạy ngược/ Được sáu đồng tiền/ Bây giờ làm nên/ Trình cha mẹ biết… Kính thư”, láy các vần: ương (trượng/ thương); ung (trùng/ phùng/cùng/ nhung); inh (binh/ sinh/ dinh/ minh/ vinh/ trình); iên (hiển/ tiện/ tiền).

Đơn của Cóc trong truyện “Trê Cóc” trình quan cũng tuân theo thể đồng dao mặc dù “trình bày” có phần “hàn lâm” theo mẫu đơn từ hành chính:

“Đơn rằng: Nguyên danh Cóc trình vi khất thôi cứu sự/ Vì Trê gian khiếu/ Nên Cóc thân oan/ Sự đã tỏ tường/ Vậy nên tục khống/ Trời sinh có giống/ Ai dám tranh càn/ Trê quả lòng gian/ Tìm đường giam chấp/ Mấy phen thăm bắt/ Tin tức vắng không/ Nay đã khỏi vòng/ Trở về đất cũ/ Trần tình cụ thử/ Đồng đồ nhũng tệ/ Cóc tôi yếu vế/ Vậy phải chịu im/ Vị thử phục quỳ/ Ơn trên soi xét/ Giãi bày các tiết/ Nhờ lượng cao xa/ Dân được điều hoà/ Khỏi điều oan khốc”, láy các âm: ất (khất/ đất); ông (khống/ giống/ không/ đồng); an (oan/ càn/ gian/ oan); a (xa/ hoà). Ta thấy sự có mặt của các từ chuyên biệt nghề nghiệp, lĩnh vực đặc thù ở ngày trước nhằm tăng cường chất đời thực của văn bản, như “khất thôi cứu” là xem xét cho ra; “giam chấp” là giam giữ đàn con, “trần tình cụ thử” là trần tình chi tiết…

 Những khảo sát trên cho thấy, trong lời đồng dao đậm chất ngộ nghĩnh trẻ em, ngắt câu đều đặn sau 4 âm tiết, các âm láy thường ở gần nhau để “liên kết” vần. Mỗi đoạn đồng dao lại thường có một âm chủ đạo làm nhiệm vụ kết nối âm của cả đoạn, như trong đoạn “tự thuật” của Tống Trân là vần ân (trân/ xuân/ ân cần/ khẩn khẩn/ giận); trong đoạn bản trạng cáo của Phạm Công là vần a (rã/ gả/ nhà/ đã/ hà); trong thư của Phạm Công là vần inh (binh/ sinh/ dinh/ minh/ vinh/ trình); trong đơn của Cóc là vần an (oan/ càn/ gian/ oan). Sự liên kết vần giữa âm bộ phận và âm chỉnh thể tạo ra sự liền mạch của cả đoạn văn bản. Âm điệu chung toát ra là sự vui vẻ, nhẹ nhàng, hưng phấn có tác dụng kích thích sự tiếp nhận được dễ dàng hơn.

Những khúc đồng dao được sử dụng vừa có tác dụng minh hoạ cho nội dung, kết nối các đơn vị cốt truyện, đồng thời tạo ra chất thơ, sự vui vẻ, ngộ nghĩnh, hóm hỉnh để tiếp nhận dễ dàng hơn. Nhờ vậy mà ngày xưa hầu hết người dân mù chữ nhưng vẫn thuộc lòng nhiều tác phẩm. Những thế hệ trẻ em cứ lớn lên từ những câu chuyện đậm sắc màu huyền thoại và đầy khát khao ấy! 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).